|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIÊN KHÁNH TỈNH KHÁNH HÒA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 26/2024/HS-ST
Ngày: 07-6-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIÊN KHÁNH, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thái Bảo Ngân
Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Lững
Ông Nguyễn Văn Hùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Bùi Nguyên Huy - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 37/2024/TLST- HS ngày 24 tháng 4 năm 2024, theo Quyếth đưa vụ án ra xét xử số 32/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số 27/2024/HSST-QĐ ngày 23 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T (tên gọi khác: H, H1) – Sinh năm 1992 tại Khánh Hòa; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; con ông Nguyễn Văn X (sinh năm 1963) và bà Nguyễn Thị Bạch T1 (sinh năm 1962); có vợ là Võ Hồng Nữ Kim L (sinh năm 1993); bị cáo có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án: Ngày 07/11/2011, bị Toà án nhân dân huyện Diên Khánh xử phạt 18 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” tại Bản án số 66/HSST (chưa thực hiện nghĩa vụ bồi thường dân sự); tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 15/3/2010, bị Công an xã D xử phạt 150.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, - Ngày 20/3/2011 bị Công an xã D xử phạt 150.000 đồng về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”; - Ngày 30/6/2011, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh K ra quyết định đưa vào cơ sở giáo dục thời hạn 24 tháng về hành vi “Vi phạm trật tự công cộng, gây thiệt hại đến tài sản của người khác”. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Ông Phan Chánh P – sinh năm 1961 (có mặt)
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị Bạch T1 – sinh năm 1962 (có mặt)
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa.
- Ông Bùi T2 – sinh năm 1956 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa.
- Bà Nguyễn Thị Tuyết M – sinh năm 1988 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa.
* Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Hồng V – sinh năm 1981 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa.
Địa chỉ: Thôn K, xã V, thành phố N, Khánh Hòa.
- Ông Trần Anh V1 - sinh năm 1972 (vắng mặt))
Địa chỉ: Thôn C, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa
- Ông Đinh Tấn T3 – sinh năm 1983 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn C, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 27/4/2023, bị cáo Nguyễn Văn T điều khiển xe mô tô hiệu Wave Honda biển kiểm soát 79L1-1162 (xe mượn của bà Nguyễn Thị Tuyết M) đến chơi nhà ông Trần Anh V1, địa chỉ: thôn C, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, ông Nguyễn Hồng V điều khiển xe mô tô chở theo ông Phan Chánh P đến nhà ông V1 để đòi nợ. Sau đó, ông V1 và ông V xảy ra cãi nhau, tức giận việc ông V1 nợ tiền không trả nên V lấy 01 kéo màu đen trong nhà ông V1 chạy ra trước sân đâm vào mặt gương đồng hồ đo tốc độ xe mô tô mà bị cáoToàn đang dựng trước sân. Thấy ông V đập phá xe của mình, T bực tức chạy ra sau nhà tìm hung khí để đánh ông V nhưng không thấy. T trèo rào qua nhà ông Bùi T2 (hàng xóm của ông V1), thấy 01 cây rựa cán bằng tre dài khoảng 70 cm, lưỡi bằng kim loại dài khoảng 30 cm đang để trên mái tôn bên hông nhà. T lấy cây rựa trên đi bộ dọc theo đường X về hướng nhà ông V1. Khi đến trước nhà số A đường X, thôn C, xã D, huyện D, T thấy ông V điều khiển xe mô tô chở ông P ngồi sau nên tiến đến cầm cây rựa chém ông V 01 nhát hướng từ trên xuống chiều từ phải chếch sang trái, ông V cúi đầu né tránh nên lưỡi rựa trúng vào vùng đầu bên trái của ông P (ngồi sau xe) gây thương tích, xe và người chạy được khoảng 05 m thì ngã. Thấy vậy, T bỏ chạy về nhà ông V1 lấy xe mô tô biển kiểm soát 79L1-1162 chạy về nhà mình, trên đường đi T vứt cây rựa vào bụi cây ven đường (Cơ quan Công an đã tìm kiếm nhưng không có kết quả), T kể lại sự việc mình gây thương tích đối với ông P cho mẹ là bà Nguyễn Thị Bạch T1 nghe. Bà T1 đã đến bệnh viện thăm hỏi ông P, bồi thường khắc phục thiệt hại với số tiền 1.200.000 đồng. Ngày 07/5/2023, T đến cơ quan Công an trình diện và khai nhận hành vi như trên.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 451 ngày 02/6/2023 của Trung tâm pháp y Sở Y kết luận:
- - Vùng trán trái có 01 vết sẹo kích thước trung bình. Tỷ lệ thương tật 06%.
- - Nứt bản ngoài xương trán. Tỷ lệ thương tật 09% tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Phan Chánh P tại thời điểm giám định là 14%. Thương tích của ông P không nguy hiểm đến tính mạng.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 36 ngày 23/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện D kết luận: Phần ốp nhựa đồng hồ và phần nhựa đồng hồ đo tốc độ bị hư hỏng của xe mô tô hiệu Wave Honda biển kiểm soát 79L1-1162 trị giá 245.000 đồng.
Bản Cáo trạng số 06/CT-VKSDK ngày 25/01/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự (viện dẫn điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự).
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự (viện dẫn điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự); điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo T từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù. Về vật chứng vụ án: đã trả lại xe moto Wave biển kiểm soát 79L1-1162 cho bà Nguyễn Thị Tuyết M nên không xem xét. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu nên không xem xét. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
- Ý kiến của bị hại: không yêu cầu bị cáo T bồi thường thiệt hại và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Bị cáo T thành khẩn thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung truy tố của Viện kiểm sát, thống nhất với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, các quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố liên quan đến việc giải quyết vụ án trên, Cơ quan điều tra Công an huyện D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định.
[2] Về thủ tục tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Tuyết M, ông Bùi T2; người làm chứng ông Trần Anh V1, ông Đinh Tấn T3 và ông Nguyễn Hồng V vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án. Sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên HĐXX căn cứ các điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật.
[3] Về nội dung vụ án:
Qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa, có căn cứ xác định: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 27/4/2023, do bực tức ông Nguyễn Hồng V vô cớ dùng kéo đâm vào mặt đồng hồ đo tốc độ xe máy của mình nên Nguyễn Văn T dùng cây rựa chém ông Nguyễn Hồng V khi ông V đang điều khiển xe máy chở ông Phan Chánh P ngồi sau, lưu thông trên đường X, thôn C, xã D, huyện D. Do ông V cúi đầu né tránh nên lưỡi rựa chém trúng vùng trán của ông Phan Chánh P gây thương tích với tỷ lệ thương tật là 14%. Vì vậy, bản Cáo trạng số 06/CT-VKSDK ngày 25/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh truy tố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự (viện dẫn điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự) là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo đã từng bị xét xử về tội "Cố ý làm hư hỏng tài sản", chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện chứng tỏ thái độ bất chấp, xem thường pháp luật của bị cáo. Lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, cần phải áp dụng một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ngoài xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung tội phạm. Tuy nhiên, trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tác động đến mẹ ruột là bà Nguyễn Thị Bạch T1 bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do đó, cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
- Trong quá trình điều tra, truy tố, bị hại đã nhận được số tiền 1.200.000 đồng và yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 5.800.000 đồng. Tuy nhiên, tại phiên toà bị hại rút yêu cầu đối với bị cáo, không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 5.800.000 đồng nên HĐXX không xem xét.
- Bị cáo Nguyễn Văn T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Tuyết M không yêu cầu ông Nguyễn Hồng V bồi thường giá trị mặt gương đồng hồ đo tốc độ xe máy bị ông V làm hư hỏng nên không xem xét.
[6] Về vật chứng vụ án:
- Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D đã tiến hành truy tìm hung khí là cây rựa nhưng không có kết quả.
- Về tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D đã trả lại cho bà Nguyễn Thị Tuyết M 01 xe mô tô hiệu Wave Honda biển kiểm soát 79L1-1162 là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Về các vấn đề khác: Đối với Nguyễn Hồng V có hành vi dùng kéo đâm vỡ mặt đồng hồ đo tốc độ xe mô tô biển kiểm soát 79L1-1126 của Nguyễn Văn T, do giá trị tài sản bị hư hỏng là 245.000 đồng, đồng thời V chưa có tiền án tiền sự về tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản nên không đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134 (viện dẫn điểm a, i khoản 1 Điều 134); điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ vào các điều 136, 292, 293, 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 03 (ba) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thái Bảo Ngân |
Bản án số 26/2024/HS-ST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIÊN KHÁNH, TỈNH KHÁNH HÒA về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 26/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIÊN KHÁNH, TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử phạt 03 năm tù về tội CYGTT
