TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - hạnh phúc |
Bản án số: 26/2024/HS-ST Ngày: 06-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Ngọc Tuyền.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Văn Liêm;
- Ông Trương Hữu Bình.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hường - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 18/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:
Đinh Ngọc V, sinh năm 1990, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: Không nơi đăng ký thường trú. Nơi ở hiện nay: Khu phố G, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: Không; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Anh K, (năm sinh không rõ, đã chết) và bà Đinh Thị Ngọc T, (năm sinh không rõ, đã chết); bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 18/12/2008, Đinh Ngọc V bị áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào Trường G, thời hạn 24 tháng về hành vi gây rối trật tự công cộng, đánh người gây thương tích, không nơi cư trú nhất định. V đã chấp hành xong. Ngày 29/12/2016, Đinh Ngọc V bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 01 năm 06 tháng. V đã chấp hành xong. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/8/2023 cho đến nay. Có mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng: Nguyễn Thị Kim L. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đinh Ngọc V và Nguyễn Thị Kim L, sinh ngày 14/7/2007 đều là người nghiện ma túy. V bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2016, L sử dụng ma túy từ năm 2022. Loại ma túy mà V và L sử dụng là ma túy đá – M.
V và L quen biết nhau vào tháng 6/2023, đến khoảng cuối tháng 7/2023, V sống cùng L tại phòng trọ số 3, thuộc Khu phố G, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương. Trong thời gian sống cùng nhau, V nhiều lần đi mua ma túy về sử dụng và cho L sử dụng cùng (trên 10 lần). V thường mua ma túy của của người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch tại tỉnh Tây Ninh, mỗi lần mua 01 tép ma túy với số tiền 200.000 đồng, 01 tép ma túy thì V và L sử dụng được 02 lần. Lần sử dụng ma túy gần nhất của V và L là ngày 25/8/2023.
Ngày 27/8/2023, V tiếp tục mua 200.000 đồng ma túy của người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch tại tỉnh Tây Ninh. Vào lúc 12 giờ 35 phút cùng ngày, tại phòng trọ của V và L, Công an thị trấn D, huyện D đã phát hiện, bắt quả tang và thu giữ trong hộp kim loại hình tròn, nắp hộp sơn màu tím của V có một bộ dụng cụ sử dụng ma túy của V do V tự chế và đoạn ống hút nhựa màu đen được hàn kín hai đầu, bên trong chứa ma túy. Số ma túy này V chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang.
Bản kết luận giám định số 515/KL-KTHS(MT) ngày 31/82023 của Phòng K1 Công an tỉnh B, kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamin, có khối lượng 0,1533 gam (bút lục 25).
Tại Cáo trạng số 18/CT-VKSDT ngày 08 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng đã truy tố bị cáo Đinh Ngọc V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự và tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hình phạt:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm a, c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 55 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đinh Ngọc V 02 năm đến 03 năm tù về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý và 08 năm đến 09 năm tù về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý;
- Về xử lý vật chứng:
Đối với các vật chứng đã thu giữ gồm: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế gồm một đoạn ống bằng thủy tinh uốn cong, một bình bằng nhựa trên nắp có gắn hai đoạn ống hút màu đen; 01 hộp kim loại hình tròn, in hình và màu sơn không rõ ràng, trên nắp hộp sơn màu tím có in chữ TIGER GOLD, kích thước hộp: đường kính 11cm, chiều cao 06 cm; 01 bì thư được niêm phong ghi số 515/PC09 có chữ ký của cán bộ niêm phong Nguyễn Thái H, Nguyễn Vă H1, và hình dấu đỏ của Công an thị trấn D; chữ ký của Trần Hoàng H2 (Cán bộ trả mẫu), Nguyễn Thế Đ (Cán bộ nhận mẫu); chữ ký và dấu vân tay của Đinh Ngọc V (người chứng kiến) và hình dấu đỏ niêm phong của phòng KTHS – Công an tỉnh B, bên trong chứa mẫu vật sau giám định M= 0,1317gam, loại Methamphetamine, đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Tại phiên tòa: Bị cáo Đinh Ngọc V khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu. Bị cáo không tranh luận gì về tội danh, điều khoản truy tố mà đại diện Viện kiểm sát đưa ra.
Lời nói sau cùng: Bị cáo đã biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên toà bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo Đinh Ngọc V tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, các lời khai thống nhất với nhau về quá trình thực hiện hành vi phạm tội và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ những chứng cứ nêu trên có căn cứ kết luận: Từ cuối tháng 7/2023 đến ngày 25/8/2023, tại phòng trọ số C, thuộc khu phố G, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương, Đinh Ngọc V đã có hành vi cung cấp ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy cho Nguyễn Thị Kim L, sử dụng trái phép chất ma túy nhiều lần, thời điểm này L chưa đủ 18 tuổi. Vào ngày 27/8/2023, tại phòng trọ số C, thuộc khu phố G, thị trấn D, huyện D, Đinh Ngọc V có hành vi tàng trữ 0,1533 gam ma túy loại Methamphetamine để sử dụng thì bị Cơ quan Công an bắt quả tang.
[3] Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ chất ma tuý, tổ chức sử dụng ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma tuý mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo Đinh Ngọc V có hành vi tàng trữ 0,1533 gam ma túy loại Methamphetamine để sử dụng. Tại Kết luận giám định số 515/KL-KTHS(MT) ngày 31/82023 của Phòng K1 Công an tỉnh B, kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamin, có khối lượng 0,1533 gam. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Ngoài ra, từ cuối tháng 7/2023 đến ngày 25/8/2023, tại phòng trọ số C, thuộc Khu phố G, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương, Đinh Ngọc V đã có hành vi cung cấp ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy cho Nguyễn Thị Kim L, sử dụng trái phép chất ma túy nhiều lần (trên 10 lần), thời điểm này L chưa đủ 18 tuổi đã phạm vào tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a, c, khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Như vậy, Cáo trạng số 18/CT-VKSDT ngày 08/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng đã truy tố bị cáo Đinh Ngọc V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự và tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Tại phiên toà, bị cáo V có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế là tính tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hìng sự. Hội đồng xét xử cân nhắc giảm một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.
[5] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6] Sau khi xem xét đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, thấy rằng, bị cáo có nhân thân xấu, để đảm bảo cho công tác đấu tranh phòng chống tội phạm ma tuý tại địa phương nên cần thiết phải xử phạt hình phạt tù với mức án nghiêm đủ sức răn đe đối với bị cáo, đồng thời, phòng ngừa chung cho xã hội. Bị cáo Đinh Ngọc V phạm hai tội nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt của hai tội đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
Đối với 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế gồm một đoạn ống bằng thủy tinh uốn cong, một bình bằng nhựa trên nắp có gắn hai đoạn ống hút màu đen; 01 hộp kim loại hình tròn, in hình và màu sơn không rõ ràng, trên nắp hộp sơn màu tím có in chữ TIGER GOLD, kích thước hộp: đường kính 11cm, chiều cao 6,5 cm; 01 bì thư được niêm phong ghi số 515/PC09 có chữ ký của cán bộ niêm phong Nguyễn Thái H, Nguyễn Văn H3, và hình dấu đỏ của Công an thị trấn D; chữ ký của Trần Hoàng H2 (Cán bộ trả mẫu), Nguyễn Thế Đ (Cán bộ nhận mẫu); chữ ký và dấu vân tay của Đinh Ngọc V (người chứng kiến) và hình dấu đỏ niêm phong của phòng KTHS – Công an tỉnh B, bên trong chứa mẫu vật sau giám định M= 0,1317gam, loại Methamphetamine, là vật chứng của vụ án, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Thị Kim L, tại thời điểm V cho L sử dụng ma túy, L đã đủ 16 tuổi, Công an thị trấn D đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.
Đối với bà Phan Thị L1, là chủ nhà trọ nơi Đinh Ngọc V và Nguyễn Thị Kim L thuê ở, bà L1 không biết việc Vũ tàng t và cùng với L sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý hành vi của bà L1 là có căn cứ.
Đối với người bán ma túy cho Đinh Ngọc V, hiện không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ xử lý là phù hợp.
[8] Xét ý kiến luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo về phần tội danh, điều khoản áp dụng và mức hình phạt là có căn cứ phù hợp với các tình tiết của vụ án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[9] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Đinh Ngọc V phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma tuý” và “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm a,c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 55 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Đinh Ngọc V 02 (hai) năm tù về tội “tàng trữ trái phép chất ma tuý”; 08 (tám) năm tù về tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 10 (mười) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/8/2023.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ:
- 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế gồm một đoạn ống bằng thủy tinh uốn cong, một bình bằng nhựa trên nắp có gắn hai đoạn ống hút màu đen (đã qua sử dụng), tại thời điểm giao nhận: đoạn ống thuỷ tinh uốn cong đã bị vỡ thành nhiều mảnh;
- 01 (một) hộp kim loại hình tròn, in hình và màu sơn không rõ ràng, trên nắp hộp sơn màu tím có in chữ TIGER GOLD, kích thước hộp: đường kính 11cm, chiều cao 6,5 cm (đã qua sử dụng);
- 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 515/PC09 có chữ ký của cán bộ niêm phong Nguyễn Thái H, Nguyễn Văn H3, và hình dấu đỏ của Công an thị trấn D; chữ ký của Trần Hoàng H2 (Cán bộ trả mẫu), Nguyễn Thế Đ (Cán bộ nhận mẫu); chữ ký và dấu vân tay của Đinh Ngọc V (người chứng kiến) và hình dấu đỏ niêm phong của phòng KTHS – Công an tỉnh B, bên trong chứa mẫu vật sau giám định M= 0,1317gam, loại Methamphetamine.
(Thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương).
3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Đinh Ngọc V phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (06/6/2024)./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Ngọc Tuyền |
Bản án số 26/2024/HS-ST ngày 06/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG về vụ án hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý và tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 26/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Đinh Ngọc V bị truy tố về tội "tàng trữ trái phép chất ma tuý và tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý"
