Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 26/2024/DS-ST

Ngày: 06-5-2024

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Ngọc Kiệt

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thị Thiện.
  2. Bà Trần Ngọc Phương.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Tấn – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Hương – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thuận An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 40/2024/TLST-DS ngày 24 tháng 01 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2024/QÐST-DS ngày 29 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1969; nơi thường trú: Thôn Đ, xã P, huyện Đ, Thành phố Hà Nội; địa chỉ liên hệ: Số F, khu phố Đ, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt và có yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Bà Ngô Thị Thu T1, sinh năm 1968; nơi thường trú: Số F, khu phố B, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:

Ngày 20/12/2018, bà T cho bà T1 vay số tiền 100.000.000 đồng, thời hạn vay là 12 tháng. Bà T1 có lập giấy vay tiền đưa cho bà T, sau đó bà T1 có trả cho bà T số tiền 50.000.000 đồng nhưng khi trả thì các bên không lập giấy tờ mà bà T1 ghi vào giấy vay tiền ngày 20/12/2018 mà bà Tân giữ. Bà T1 tiếp tục vay số tiền 25.000.000 đồng và 20.000.000 đồng của bà T và bà T1 ghi vào giấy vay tiền thể hiện còn nợ bà T số tiền 95.000.000 đồng. Do những lần bà T1 trả tiền và vay thêm thì bà T1 không ghi ngày tháng trả và ngày tháng vay nên bà T không nhớ cụ thể.

Ngày 26/12/2018, bà T1 tiếp tục vay số tiền 100.000.000 đồng và bà T1 có lập giấy vay tiền. Thời hạn vay là 12 tháng nhưng bà T1 ghi nhầm 26/12/2018 (đúng là 26/12/2019). Sau đó bà T1 vay thêm số tiền 20.000.000 đồng nhưng không lập giấy vay mà bà T1 ghi vào giấy vay tiền ngày 26/12/2018.

Đến ngày 04/02/2019, bà T1 tiếp tục vay số tiền 50.000.000 đồng của bà T và có lập giấy vay tiền. Thời hạn vay là 12 tháng (đến ngày 04/02/2020).

Ngoài số tiền trả 50.000.000 đồng mà bà T1 ghi trong giấy vay tiền đề ngày 20/12/2018 thì bà T1 còn có trả cho bà T rất nhiều lần, mỗi lần 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng nhưng hai bên không lập giấy tờ. Số tiền bà T1 đã trả dần với tổng số tiền 89.000.000 đồng (không bao gồm số tiền 50.000.000 đồng bà T1 trả ghi trong giấy vay tiền ngày 20/12/2018).

Như vậy, tổng số tiền bà T cho bà T1 vay là 295.000.000 đồng và tổng số tiền bà T1 đã trả cho bà T là 139.000.000 đồng. Do đó, số tiền bà T1 còn nợ bà T là 156.000.000 đồng.

Số tiền bà T cho bà T1 vay là tài sản riêng của bà T.

Theo đơn khởi kiện, bà Nguyễn Thị T yêu cầu bà Ngô Thị Thu T1 trả số tiền 163.000.000 đồng. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị T yêu cầu Tòa án buộc bị đơn bà Ngô Thị Thu T1 có trách nhiệm trả cho bà T số tiền nợ vay gốc là 156.000.000 đồng. Bà T không yêu cầu bà T1 trả tiền lãi.

Các tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp chứng minh yêu cầu khởi kiện: Các Hợp đồng vay tiền ngày 26/12/2018, 20/12/2018 và ngày 04/02/2019.

- Bị đơn bà Ngô Thị Thu T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa và các giấy triệu tập bà Ngô Thị Thu T1 đến Tòa án tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án theo đúng quy định tại các Điều 177; Điều 208; Điều 220; Điều 227 và Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên bà T1 đều vắng mặt không rõ lý do.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và nội dung giải quyết vụ án:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục được quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật tố tụng; bị đơn không chấp hành đúng pháp luật tố tụng.

-Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh tụng của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa, nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cụ thể: Buộc bà Ngô Thị T1 có trách nhiệm trả số tiền vay nợ gốc 156.000.000 đồng cho bà Nguyễn Thị T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Bà Nguyễn Thị T khởi kiện tranh chấp đối với bà Ngô Thị Thu T1 liên quan đến 03 Hợp đồng vay tài sản 26/12/2018, 20/12/2018 và ngày 04/02/2019 được ký kết giữa bà T và bà T1. Theo các hợp đồng vay thể hiện bà Ngô Thị T2 Thủy cư trú tại địa chỉ số F khu phố B, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương; đồng thời theo biên bản xác minh ngày 31/01/2024 thể hiện bà Ngô Thị Thu T1 đã bán nhà chuyển đi nơi khác và địa phương không rõ bà T1 hiện đang cư trú tại đâu. Do đó, quan hệ pháp luật trong vụ án này được xác định là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương theo quy định Điều 26, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463 Bộ luật Dân sự và Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

[1.2] Bị đơn bà Ngô Thị Thu T1 được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng và tham gia phiên tòa xét xử lần thứ 2 theo đúng quy định tại các Điều 177; Điều 220; Điều 227 và Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng đều vắng mặt không rõ lý do. Việc vắng mặt của bị đơn bà Ngô Thị Thu T1 trong quá trình tố tụng được xem là từ bỏ quyền trình bày, đưa ra chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn; nguyên đơn bà Nguyễn Thị T có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà T và bà T1.

[2] Về nội dung:

[2.1] Theo Hợp đồng vay tiền ngày 20/12/2018 thể hiện bà Ngô Thị Thu T1 có vay của bà Nguyễn Thị T số tiền 100.000.000 đồng, thời hạn vay là 12 tháng. Sau đó bà T1 có trả số tiền 50.000.000 đồng và bà T1 xác nhận còn nợ bà T số tiền 50.000.000 đồng và bà T1 tiếp tục vay bà T3 45.000.000 đồng (lần 1 vay 25.000.000 đồng và lần 2 vay số tiền 20.000.000 đồng); bà T1 không lập giấy vay tiền của từng lần vay và thời gian vay mà ghi vào Hợp đồng vay tiền ngày 20/12/2018 số tiền cộng của từng lần vay.

Hợp đồng vay tiền ngày 26/12/2018 thể hiện bà Ngô Thị Thu T1 vay số tiền 100.000.000 đồng và sau đó có vay số tiền 20.000.000 đồng nhưng chỉ ghi chung vào hợp đồng vay tiền ngày 26/12/2018 và cũng không ghi thời gian.

Theo hợp đồng vay tài sản ngày 04/02/2019 thể hiện bà Nguyễn Thị T tiếp tục cho bà Ngô Thị Thu T1 vay số tiền 50.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng.

[2.2]. Như vậy, theo các Hợp đồng vay tài sản nêu trên thì tổng số tiền bà T cho bà T1 vay là 295.000.000 đồng. Bà T1 có ghi trả số tiền 50.000.000 đồng vào Hợp đồng vay tiền ngày 20/12/2018 và trong quá trình giải quyết bà Nguyễn Thị T xác định sau khi bà T1 trả số tiền 50.000.000 đồng thì bà T1 có trả dần mỗi tháng cho bà T từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng với tổng số tiền là 89.000.000 đồng. Tuy không có tài liệu, chứng cứ thể hiện bà T1 đã trả cho bà T số tiền 89.000.000 đồng nhưng đây là sự tự định đoạt của bà T và có lợi cho bị đơn bà Ngô Thị Thu T1 nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Do đó, số tiền bà Ngô Thị Thu T1 đã trả cho bà Nguyễn Thị T là 139.000.000 đồng và số tiền bà T1 còn nợ bà Nguyễn Thị T là 156.000.000 đồng.

[2.3]. Theo Điều 463 của Bộ luật Dân sự quy định: Khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.

[2.4]. Mặt khác, theo Điều 466 của Bộ luật Dân sự quy định: Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

[2.5]. Từ phân tích nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T về việc yêu cầu bị đơn bà Ngô Thị Thu T1 có trách nhiệm trả số tiền vay gốc 156.000.000 đồng cho bà Nguyễn Thị T.

[2.6]. Theo Hợp đồng vay tiền giữa bà Nguyễn Thị T và bà Ngô Thị Thu T1 không có có thỏa về tiền lãi; đồng thời theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết, bà Nguyễn Thị T không yêu cầu bà Ngô Thị Thu T1 trả tiền lãi nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[2.7]. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là phù hợp quy định của pháp luật.

[ 2.8] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn bà Ngô Thị Thu T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • Khoản 3 Điều 26; Điều 35; Điều 36; Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Các Điều 463 và 466 của Bộ luật Dân sự.
  • Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T với bị đơn bà Ngô Thị Thu T1 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

- Buộc bà Ngô Thị Thu T1 có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị T số tiền 156.000.000 đồng (Một trăm năm mươi sáu triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.

2. Về án phí sơ thẩm:

Bà Ngô Thị Thu T1 phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 7.800.000 đồng.

Hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị T số tiền 8.150.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo lai thu tiền số 0001178 ngày 17/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2, Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Ngọc K

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2024/DS-ST ngày 06/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 26/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: nguyễn thị T- ngô thị thu T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger