|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN, TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 26/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 05/8/2024
V/v: "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Lệ Thanh và ông Phạm Hữu Ái;
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Ngọc Trà My, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Kim Trâm – Kiểm sát viên;
Ngày 05 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 103/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị T, sinh năm: 1977 (Vắng mặt)
HKTT: Thôn S, xã TH, huyện H, tỉnh B.
- Bị đơn: Ông Trương Văn T1, sinh năm: 1980 (Vắng mặt)
HKTT: Thôn S, xã TH, huyện H, tỉnh B.
(Ông T1, bà T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện đề ngày 24/4/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Thị T trình bày: Bà và ông T1 đăng ký kết hôn ngày 04/01/2012 tại Ủy ban nhân dân phường L, quận B, Tp C. Trong quá trình chung sống, ông T1 thường xuyên chửi bới, đánh đập bạo hành bà và các con. Đêm 22/4/2024, ông T1 chửi bới, đuổi bà và các con ra khỏi nhà, bà không đi nên ông T1 dọa đổ xăng thiêu chết cả nhà. Vì sợ ảnh hưởng đến tính mạng nên bà dẫn các con đến nhà mẹ chồng để tá túc đồng thời nộp đơn đến UBND xã T nhờ can thiệp. Khi chính quyền địa phương cùng Công an xã T đến làm việc, ông T1 đã bắt cháu Nhật A2 uy hiếp, dọa sẽ dùng thuốc trừ sâu, giật điện giết chết cháu để buộc cán bộ chức năng rời đi. Sau khi cháu Nhật A2 thoát được, ông T1 vẫn tiếp tục tìm kiếm để bắt hai con. Để đảm bảo an toàn, bà và hai con đã đến tạm lánh tại Công an xã T. Hiện nay, bà không còn tình cảm với ông T1 nữa, do đó bà yêu cầu được ly hôn với ông T1.
Về con chung: Trong quá trình chung sống, bà và ông T1 có 02 con chung là Trương Hoàng A1, sinh ngày: 10/9/2012 và Trương Thị Nhật A2, sinh ngày 17/9/2018. Sau khi ly hôn bà yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng các con chung, không yêu cầu ông T1 phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Các bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Trương Văn T1 trình bày: Ông và bà T đăng ký kết hôn ngày 04/01/2012 tại Ủy ban nhân dân phường L, quận B, Tp C. Trong quá trình chung sống, hai vợ chồng bất đồng quan điểm về nhiều vấn đề. Bà T nói nhiều, chửi bới, chì chiết và không thấu hiểu, chia sẻ những khó khăn trong công việc của ông, dẫn đến ông bị ức chế tinh thần trong thời gian dài nên đập phá đồ đạc và đuổi bà T ra khỏi nhà để tập trung làm việc. Ngày 22/4/2024, bà T nói quá nhiều nên ông đuổi bà T ra khỏi nhà. Khi Chính quyền địa phương đến làm việc, do đồng chí Công an giao tiếp thiếu chuẩn mực nên ông bức xúc, một phần ông lo sợ họ sẽ bắt con của ông đi, nên ông đuổi đoàn công tác ra khỏi nhà. Vì nhất thời thiếu suy nghĩ nên ông đã chuẩn bị thuốc trừ sâu để ông và cháu Nhật A2 cùng tự sát, đồng thời ôm con gái hù dọa sẽ giật điện hai cha con nếu đoàn công tác tiến vào. Một lúc sau, cháu Nhật A2 chạy ra ngoài cùng với bà T, ông đi tìm đón cháu Hoàng A1 ở trường nhưng cháu bỏ trốn. Bà T đã dẫn hai con đi đâu ông không rõ. Hiện nay ông không đồng ý ly hôn với bà T vì ông còn thương vợ con. Đề nghị Tòa án hòa giải cho vợ chồng ông đoàn tụ để cùng nhau nuôi dạy con cái.
Về con chung: Trong quá trình chung sống, ông và bà T có 02 con chung là Trương Hoàng A1, sinh ngày: 10/9/2012 và Trương Thị Nhật A2, sinh ngày 17/9/2018. Ông đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng các con chung và không yêu cầu bà T phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Các bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân:
- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử sơ thẩm: Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự. Thẩm quyền thụ lý vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, cấp tống đạt văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật; Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và Thư ký thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về phiên tòa sơ thẩm; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng theo quy định.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T, bà Trần Thị T được ly hôn với ông Trương Văn T1; Giao các con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng, tài sản chung, nợ chung không xem xét giải quyết. Đương sự phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của các bên đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Bà Trần Thị T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Trương Văn T1; Yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng các con chung nên quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[2] Bị đơn ông Trương Văn T1 có nơi cư trú tại thôn S, xã T, huyện H, tỉnh B, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
[3] Bà Trần Thị T và ông Trương Văn T1 có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4] Về hôn nhân: Bà T và ông T1 đăng ký kết hôn ngày 04/01/2012 tại Ủy ban nhân dân phường L trên cơ sở tự nguyện. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.
[5] Các đương sự đều thống nhất trình bày trong quá trình chung sống, cả hai bất đồng quan điểm sống, bà T thường xuyên chửi bới nên ông T1 nhiều lần đuổi bà T ra khỏi nhà. Xác minh tại địa phương cũng thể hiện ông T1 nhậu nhẹt, bỏ bê con cái và thường xuyên bạo hành bà T.
[6] Những căn cứ nêu trên thể hiện mâu thuẫn vợ chồng giữa bà T và ông T1 thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy cần phải chấp nhận cho bà T được ly hôn với ông T1.
[7] Về con chung: Bà T và ông T1 có 02 con chung là Trương Hoàng A1, sinh ngày: 10/9/2012 và Trương Thị Nhật A2, sinh ngày 17/9/2018. Các đương sự đều yêu cầu được nuôi dưỡng con chung. Tài liệu chứng cứ trong hồ sơ thể hiện, bị đơn thừa nhận đã có hành vi đe dọa đến tính mạng của cháu Trương Thị Nhật A2, đồng thời tại địa phương cũng xác định ông T1 thường xuyên nhậu nhẹt, bạo hành bà T, có lần vì nhậu nhẹt mà bỏ bê không chuẩn bị cơm nước cho các con. Khi ông T1 đến trường đón, cháu Hoàng A1 đã bỏ trốn để đi gặp mẹ, hơn nữa, cháu cũng có ý kiến muốn sống cùng với mẹ.
[8] Từ những căn cứ trên, thấy rằng ông T1 không có sự quan tâm đến các con. Lẽ ra ông T1 phải bảo vệ con mình khỏi sự bạo hành và những mối nguy hiểm, nhưng vì chống đối chính quyền địa phương mà ông sẵn sàng có hành vi đe dọa đến tính mạng của cháu Nhật A2. Đồng thời, hành vi của ông T1 thể hiện xu hướng bạo lực, nếu giao các con cho ông T1 nuôi dưỡng sẽ ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách của các cháu về lâu dài. Hơn nữa, hiện nay các cháu đang sinh sống cùng với bà T. Do đó, cần giao cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng các con chung để tránh làm xáo trộn cuộc sống, tâm sinh lý của các cháu và đảm bảo
sự phát triển bình thường của trẻ. Việc giao con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình và đảm bảo được sự phát triển mọi mặt của con chưa thành niên.
[9] Về cấp dưỡng nuôi con: Nguyên đơn xác định hiểu rõ việc yêu cầu cấp dưỡng cho con là nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con, tuy nhiên, nguyên đơn tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng. Đồng thời, các đương sự đều xác định bà T có công việc tạo ra thu nhập. HĐXX xét thấy, bà T có đủ khả năng và điều kiện nuôi dưỡng con chung nên không buộc ông T1 phải cấp dưỡng nuôi con.
[10] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
[11] Về án phí, nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
- - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- - Điều 19, 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;
- - Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị T đối với ông Trương Văn T1 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị T được ly hôn với ông Trương Văn T1.
2. Về con chung: Giao cho bà Trần Thị T trực tiếp nuôi dưỡng con chung Trương Hoàng A1, sinh ngày: 10/9/2012 và Trương Thị Nhật A2, sinh ngày 17/9/2018.
Ông Trương Văn T1 được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được cản trở.
Vì quyền lợi của con chung, các đương sự đều có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn theo quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng: Các đương sự không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.
3. Tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không tranh chấp, nên không xem xét giải quyết.
4. Án phí: Bà Trần Thị T phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0010749 ngày 25/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Tân. Bà T đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thùy Trang |
Bản án số 26/2024/HNGĐ-ST ngày 05/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 26/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà T yêu cầu ly hôn với ông T1
