Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUAN HÓA

TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2024/HS-ST

Ngày 03/07/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN HÓA, TỈNH THANH HOÁ.

Với thành phần xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Thanh

Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Vi Ngọc Trung
  2. Bà Phạm Thị Nghị

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quan Hóa tham gia phiên tòa: Ông La Văn Trình - Kiểm sát viên.

Ngày 03/7/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hoá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 23/2024/TLST-HS ngày 23/05/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2024/QĐXXST-HS ngày 21/06/2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Triệu Văn M; Sinh ngày: 21/01/1992. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: xóm M, xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 07/12. Nghề nghiệp:Trồng trọt. Số CCCD: [...]. Nơi cấp: Cục C3 về TTXH. Con ông: Triệu Quang C ( đã chết). Con bà: Phan Thị T, sinh năm 1974; Chỗ ở hiện nay: xóm M, xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Vợ, con: chưa có

Tiền sự: không. Tiền án: 01. Ngày 25/7/2014 bị Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xét xử 9 (chín) năm tù về tội cướp tài sản và 12 (mười hai) tháng tù về tội Bắt giữ người trái pháp luật. Tổng hợp chung cho cả hai tội là 10 (mười năm tù), chưa được xóa án tích. Bị tạm giữ từ ngày 12/3/2024 đến ngày 15/3/2024 chuyển tạm giam, tại nhà tạm giữ Công an huyện Q đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Anh Phạm Văn T1, sinh năm 1978, trú tại bản Đuốm, xã P, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. (Có mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: chị Nguyễn Thị C1, sinh năm 1964, trú tại: tổ dân phố V, thị trấn M, huyện M, tỉnh Hòa Bình. (Vắng mặt có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 02 giờ 00 phút ngày 30/01/2024 bị cáo được Hoàng Văn M1 là người cùng quê, rủ vào Thanh Hóa để làm việc. Khi đi đến xã P, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa M1 dẫn bị cáo đi bộ vào rừng, do đi đường xa và dốc cao nên bị cáo không đồng ý làm cùng M1 nữa và bỏ về. Trên đường đi về bị cáo nhìn thấy 01 xe mô tô màu đỏ, loại xe Sirius, mang BKS 36H5-031.10 đang dựng bên một túp lều, không có người trông giữ nên đã nảy sinh ý định trộm xe bán lấy tiền để đi xe khách về Thái Nguyên. Do trên xe không có chìa khóa nên bị cáo phải dắt xe trôi dốc về phía đường chính. Trên đường đi bị cáo gặp Cao Văn T2 tại bản Đuốm, xã P, huyện Q đang rửa xe bên đường, bị cáo hỏi mượn chìa khóa xe máy để mở khóa xe, rồi nổ máy xe đi đến khu vực huyện M, tỉnh Hòa Bình. Khi đi đến quán sửa xe máy của anh Bùi Văn H, sinh năm 1979, tại tiểu khu C, thị trấn M, huyện M, Hòa Bình bị cáo có hỏi anh H để bán xe cho anh H nhưng do xe máy không có giấy tờ nên anh H không mua. bị cáo nhờ anh H gọi người mua bán sắt vụn để bán chiếc xe máy thì anh H gọi cho chị Nguyễn Thị C1, sinh năm 1964, trú tại tổ dân phố V, thị trấn M, huyện M, tỉnh Hòa Bình đến mua xe máy do bị cáo trộm cắp được. Do xe không có giấy tờ nên bị cáo và chị C1 đã thống nhất với nhau là xe chỉ bán được như giá bán sắt vụn với giá 800.000đ (tám trăm nghìn đồng). Sau khi bán được xe máy cho chị C1, M dùng hết số tiền 800.000đ (bị cáo) để tiêu sài và đi xe khách về nhà ở xóm M, xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Đến ngày 20/02/2024 Công an xã P, huyện Q nhận được đơn trình báo của anh Phạm Văn T1, sinh năm 1978, trú tại bản Đuốm, xã P, huyện Q, Thanh Hóa về việc bị mất cắp chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAHAMA, loại xe Sirius, mang BKS 36H5-031.10. Sau khi tiếp nhận đơn trình báo Công an xã P, huyện Q đã tiến hành xác minh ban đầu đối với vụ việc và truy tìm tài sản bị mất cắp. Ngày 20/02/2024 sau quá trình truy tìm tài sản bị mất cắp thì gia đình anh T1 phát hiện chiếc xe mô tô bị mất cắp đang ở nhà chị Phạm Thị C2, tại tổ dân phố V, thị trấn M, huyện M, tỉnh Hòa Bình nên đã trình báo đến công an xã P, huyện Q. Sau khi nhận được trình báo của anh T1 Công an xã P đã phối hợp với Công an thị trấn M thu giữ chiếc xe. Quá trình xác minh nhận thấy vụ việc có dấu hiệu tội phạm Công an xã P, huyện Q đã chuyển hồ sơ và tang vật đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Q để điều tra theo quy định.

Công an huyện Q đã tiến hành định giá tài sản đối với xe mô tô mang BKS 36H5-031.10, nhãn hiệu YAMAHA, loại xe Sirius, số máy 5C6K-132447, số khung C6K0DY132447, màu sơn đỏ đen. Tại bản kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐĐGTS ngày 26 tháng 02 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện Q xác định xe mô tô mang BKS 36H5-031.10, nhãn hiệu YAMAHA, loại xe Sirius, số máy 5C6K-132447, số khung C6K0DY132447, màu sơn đỏ đen, đã qua sử dụng có giá trị 6.000.000đ (sáu triệu đồng).

Ngày 12/3/2024 ra đầu thú tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Q. Tại Cơ quan CSĐT bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Quá trình giải quyết vụ án Cơ quan CSĐT Công an huyện Q đã thu giữ: Xe mô tô mang BKS 36H5-031.10, nhãn hiệu YAMAHA, loại xe Sirius, số máy 5C6K-132447, số khung C6K0DY132447, màu sơn đỏ đen là tài sản mà Triệu Văn M đã trộm cắp của anh Phạm Văn T1, sinh năm 1978, trú tại bản Đuốm, xã P, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Trong quá trình điều tra giải quyết vụ án, xét thấy không cần phải tiếp tục tạm giữ phương tiện Cơ quan CSĐT Công an huyện Q đã trả lại chiếc xe cho chủ sở hữu.

Cáo trạng số: 23/CT-VKS-QH ngày 21/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quan Hóa đã truy tố bị cáo về tội “trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS (Tái phạm), bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 53 BLHS, xử phạt bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù, thời gian chấp hành án tính từ ngày tạm giữ; Đề nghị HĐXX không phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại xe máy, không yêu cầu bồi thường.

Về án phí: Bị cáo có tội nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện các hành vi tố tụng và ban hành các Quyết định tố tụng đúng, đủ, chính xác về thẩm quyền, trình tự tố tụng theo quy định của BLTTHS năm 2015. Quá trình điều tra truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2]. Về hành vi phạm tội: Ngày 30/01/2024 bị cáo có hành vi trộm cắp xe mô tô BKS 36H5-031.10, nhãn hiệu YAMAHA, loại xe Sirius, số máy 5C6K-132447, số khung C6K0DY132447, màu sơn đỏ - đen trị giá 6.000.000₫ (sáu triệu đồng) của anh Phạm Bá T3, trú tại bản Đuốm, xã P, huyện Q, đủ căn cứ kết luận bị cáo phạm tội “trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS như Viện kiểm sát nhân dân huyện Quan Hóa truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Tính chất vụ án: Đây là vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, giá trị tài sản trộm cắp không lớn, người bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì khác. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngày 25/7/2014 bị Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xét xử 9 (chín) năm tù về tội cướp tài sản và 12 (mười hai) tháng tù về tội Bắt giữ người trái pháp luật, Tổng hợp chung cho cả hai tội là 10 (mười năm tù), 17/3/2023 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, như vậy bị cáo chưa được xóa án tích nhưng lại tiếp tục phạm tội, hành vi của bị cáo được xác định là tái phạm nên bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng TNHS quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.

[4]. Hình phạt: Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo, xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội. Mức hình phạt Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là phù hợp.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định, HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6]. Trách nhiệm dân sự: Quá trình giải quyết vụ án, gia đình bị cáo đã tự nguyện trả chi phí tìm kiếm xe bị mất cho bị hại, bị hại đã nhận lại xe máy và không yêu cầu bị cáo bồi thường. Đối với số tiền 800.000đ (tám trăm nghìn đồng) chị Nguyễn Thị C1 mua chiếc xe, bị cáo đã tiêu sài hết. Sau khi biết chiếc xe là trộm cắp chị C1 không có yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền trên nên HĐXX không xem xét.

[7]. Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại xe máy cho người bị hại là đúng quy định pháp luật nên HĐXX không xem xét.

[8]. Các nhận định khác: Anh Cao Văn T2 là người cho bị cáo mượn chìa khóa xe máy, anh Bùi Văn H là người gọi chị Nguyễn Thị C1 đến mua xe máy do bị cáo trộm cặp được. Những người này đều không biết chiếc xe mô tô bị cáo có được là do phạm tội mà có nên không có căn cứ để xử lý hình sự.

[9]. Về án phí: Bị cáo có tội nên phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 53; Điều 50; Điều 38 BLHS;

Căn cứ: Khoản 2 Điều 135, Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ: Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, ngày 30/12/2016 và mục 1 phần I Danh mục mức án phí lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14.

Tuyên bố: Bị cáo Triệu Văn M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Triệu Văn M 12 (Mười hai) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày tạm giữ (12/3/2024). Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Áp dụng: Điều 331, Điều 333 BLTTHS. Án xử công khai, có mặt bị cáo, bị hại. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Phòng KTNV, TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKS nhân dân tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKS nhân dân H. Quan Hóa (03 bản);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
  • - CQĐT Công an H. Quan Hóa;
  • - Nhà tạm giữ Công an H. Quan Hóa;
  • - Chi cục THADS huyện Quan Hóa;
  • - UBND xã Nam Hòa, Đồng Hỷ, Thái Nguyên;
  • - Bị cáo;
  • - Hồ sơ Thi hành án Hình sự;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa

Ngô Thị Thanh

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các hội thẩm nhân dân

Vi Ngọc Trung

Phạm Thị Nghị

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa

Ngô Thị Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2024/HS-ST ngày 03/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN HÓA, TỈNH THANH HOÁ. về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 26/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN HÓA, TỈNH THANH HOÁ.
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Triệu Văn Mười phạm tội “Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger