TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 26/2024/HS-ST Ngày 03-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thế Văn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Văn Tám
Ông Huỳnh Văn Sức
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Vỉnh - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Văn N, sinh ngày 11/11/2004; nơi sinh: tại huyện P, tỉnh An Giang; nơi cư trú: ấp H, xã P, huyện P, tỉnh An Giang; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Đạo Phật giáo H1; trình độ học vấn: Lớp 6/12; nghề nghiệp: Làm thuê; con ông Nguyễn Văn Ú, sinh năm 1982 và bà Huỳnh Thị L, sinh năm 1984; anh, chị, em ruột có 03 người, bị cáo là người lớn nhất; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo N bị tạm giam từ ngày 20/10/2023 đến nay, tại Nhà Tạm giữ - Công an huyện P, tỉnh An Giang, có mặt
- Trần Quốc T, sinh ngày 06/8/2003; nơi sinh: tại huyện C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Đạo Phật giáo H1; trình độ học vấn: Lớp 12/12; nghề nghiệp: không; con ông Trần Văn L1, sinh năm 1960 và bà Trường Thị C, sinh năm 1961; anh, chị, em ruột có 02 người, bị cáo là người thứ hai; tiền án, tiền sự: không. Bị can T bị tạm giam từ ngày 20/10/2023 đến
- nay, tại Nhà Tạm giữ - Công an huyện P, tỉnh An Giang, có mặt.
- Nguyễn Nhựt P, sinh ngày 25/5/2003; nơi sinh: tại huyện C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Gian; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: Lớp 9/12; nghề nghiệp: Làm ruộng; con ông Nguyễn Thái N1, sinh năm 1980 và bà Đoàn Thị Ngọc C1, sinh năm 1988; anh, chị, em ruột có 02 người, bị cáo là người thứ hai. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo P bị tạm giam từ ngày 20/10/2023 đến nay, tại Nhà Tạm giữ - Công an huyện P, tỉnh An Giang, có mặt.
- Người có quyền lợi liên quan: Chị Nguyễn Thị Trúc L2, sinh năm 2006 nơi cư trú: Ấp H, xã P, huyện P, An Giang, vắng mặt.
- Người làm chứng:
- Trần Văn T1, vắng mặt;
- Trần Hoàng T2, có mặt;
- Lê Văn Di T3, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 20/10/2023, nhận được tin báo của người dân, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy thuộc Công an huyện P phối hợp Công an xã B Đông dừng phương tiện xe mô tô biển số 67D2-141.47 do Nguyễn Văn N (sinh ngày 11/11/2004), cư trú ấp H, xã P, huyện P điều khiển từ nhà đến khu vực bến đò T thuộc tổ A, ấp B, xã B. Qua kiểm tra, phát hiện bên trong túi quần jean bên trái phía trước của N cất giấu 02 bịch nilon trong suốt được hàn kín, chứa chất tinh thể màu trắng. Nhóc khai 02 bịch nilon trên là ma túy đá của N mua để bán lại cho người nghiện khác sử dụng để thu lợi, nên lực lượng Công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với N và thu giữ vật chứng có liên quan.
Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, lực lượng Công an tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của N tại khu vực tổ A, ấp H, xã P, huyện P, phát hiện Trần Quốc T (sinh ngày 06/8/2003) và Nguyễn Nhựt P (sinh ngày 25/5/2003), cùng cư trú khóm V, thị trấn V, huyện C đang ở trong nhà của N; qua khám xét bên trong nhà phát hiện, thu giữ 01 chai gas nhãn hiệu Sun, 01 chai nhựa nắp màu vàng, trên nắp có gắn nỏ thuỷ tinh và ống hút, 01 đầu khò gas mini màu trắng, 02 cây kéo bằng kim loại, 02 nỏ thuỷ tinh, 01 cân điện tử là dụng cụ sử dụng, phân lẻ ma tuý ra để bán của N và một số đồ vật có liên quan. T, P khai 02 bịch nilon thu giữ trên người của N là ma tuý đá của N nhờ T, P mua của H (không rõ
họ, địa chỉ) với giá 2.800.000 đồng tại khu vực phường N, thành phố C, tỉnh An Giang, rồi giao tại nhà cho N. Nhóc lấy một ít ma tuý bên trong 02 bịch trên và mang dụng cụ sử dụng ma tuý của N ra cùng sử dụng với T, P, xong N điều khiển xe đem 02 bịch ma tuý đi bán, nên lực lượng Công an tiến hành bắt khẩn cấp đối với T, P.
Quá trình điều tra, còn xác định: Năm 2021, N, T, P cùng đi làm thuê tại tỉnh Bình Dương nên quen biết nhau, rồi về quê sinh sống thường xuyên liên lạc với nhau. Khoảng tháng 7/2023, N, T, P có sử dụng ma túy đá chung với nhau, từ đó N biết T, P có nguồn mua ma túy đá nên N nhiều lần nhờ T, P mua ma túy đá để sử dụng và bán lại cho người nghiện khác sử dụng để thu lợi. Sau khi mua được ma tuý, T, P được Nhóc cho ma tuý để sử dụng. Cụ thể, N nhờ T, P mua khoảng 06 lần, nhưng chỉ nhớ cụ thể được 02 lần, như sau:
- - Lần 01: Ngày 18/10/2023, N điện thoại nhờ T, P mua 25 số ma túy đá với giá 1.500.000 đồng và N đã chuyển khoản 1.500.000 đồng cho T, thì T đồng ý, hẹn giao ma túy tại nhà của N. Sau đó, T điều khiển xe mô tô biển số 67D2-141.47 chở P đến phường N, thành phố C gặp H mua 25 số ma tuý đá và đưa Hận 1.500.000 đồng. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, do T bận công việc gia đình nên P điều khiển xe mô tô mang ma tuý đến nhà giao cho N. Sau khi nhận ma tuý, N phân lẻ ra 06 bịch nhỏ, với giá từ 200.000 đồng đến 1.000.000 đồng, rồi N nhờ P điều khiển xe mô tô giao 01 bịch ma tuý cho Nguyễn Thanh N2 (sinh năm 2003), cư trú ấp H, xã T, huyện P, với giá 200.000 đồng. Số ma tuý còn lại N đã bán cho Trần Hoàng T2 (sinh năm 2002), cư trú ấp H, xã P 02 bịch, với giá 400.000 đồng và N mang dụng cụ sử dụng ma tuý của N ra cho T2 sử dụng ma túy cùng với N tại nhà N; bán cho Lê Văn Di T3 (sinh ngày 13/8/2005), cư trú ấp H, xã P 01 bịch, với giá 200.000 đồng và N mang dụng cụ sử dụng ma tuý của N ra cho D sử dụng ma túy tại nhà N; bán cho Nguyễn Hồng S (sinh năm 2003), cư trú ấp H, xã T 01 bịch, với giá 200.000 đồng; bán cho Trần Văn T1 (sinh ngày 20/11/1989), cư trú ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang 01 bịch, với giá 1.000.000 đồng tại nhà của N. Đối với lần này N đã bán ma tuý được 2.000.000 đồng, thu lợi bất chính 500.000 đồng.
- - Lần 02: Khoảng 22 giờ ngày 19/10/2023, N điện thoại nhờ T, P mua 25 số mua ma túy đá với giá 1.500.000 đồng và N đã chuyển khoản 900.000 đồng cho T, còn nợ lại 600.000 đồng, thì T đồng ý, hẹn giao ma túy tại nhà của N. Đến khoảng 03 giờ ngày 20/10/2023, Trần Văn T1 nhắn tin cho N hỏi mua 50 số ma túy đá, với giá 3.000.000 đồng để sử dụng, thì N đồng ý, nên N điện thoại cho T để hỏi mua thêm 25 số ma túy đá, để đủ số lượng giao cho T1, thì T đồng ý đặt mua cho N tổng cộng 50 số ma túy đá với giá 2.800.000 đồng (do mua số lượng nhiều nên được giảm 200.000 đồng). Sau đó, T điện thoại cho P cùng đi
mua ma túy đá, T điều khiển xe mô tô biển số 67D2-141.47 chở P đến khu vực phường N, thành phố C gặp H mua 50 số ma tuý đá và đưa cho H 900.000 đồng, còn nợ lại 1.900.000 đồng. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô chở P đến nhà giao ma tuý cho N, được N trả thêm 400.000 đồng, còn nợ lại 1.500.000 đồng. Sau khi nhận ma tuý xong, N lấy một ít ma túy đá ra để vào nỏ thủy tinh gắn vào bình hút ma túy của N rồi cùng với T, P sử dụng tại nhà của N. Trong lúc sử dụng ma túy, T1 điện thoại kêu Nhóc phân ma túy ra thành 02 bịch, rồi đem qua huyện C giao cho T1, nên N phân ma tuý ra và mượn xe mô tô biển số 67D2-14147 của P, rồi điều khiển đến bến phà T thuộc khu vực tổ A, ấp B, xã B thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt quả tang.
*Kết luận giám định số 198/KL-KTHS(MT-GT) ngày 26/10/2023 của Phòng K - Công an tỉnh A, ghi nhận: Mẫu M gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 4,1860 gam.
Ngày 26/10/2023, N, T, P bị khởi tố, tạm giam để điều tra xử lý.
* Lời khai của người có quyền lợi liên quan, người làm chứng:
- - Trần Hoàng T2, Lê Văn Di T3, Trần Văn T1 trình bày như nội dung vụ án.
- - Nguyễn Thị Trúc L2 trình bày: L2 và N sống chung với nhau như vợ chồng tại nhà của N. L2 thường thấy T, P đến nhà N chơi vào ban đêm, còn việc N, T, P có hành vi mua bán, sử dụng trái phép chất ma tuý, thì L2 không biết.
* Lời khai của những người chứng kiến Võ Thanh T4, Dương Thanh P1 trình bày: Khoảng 11 giờ ngày 20/10/2023, chứng kiến lực lượng Công an kiểm tra, thu giữ 02 bịch ma tuý cất giấu trong túi quần jean bên trái phía trước của Nguyễn Văn N, như nội dung vụ án.
* Quá trình điều tra, Nguyễn Văn N, Trần Quốc T, Nguyễn Nhựt P khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã nêu.
Cáo trạng số: 26/CT-VKS ngày 31 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Phú Tân để xét xử bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tổ chức việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 và điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Trần Quốc T và Nguyễn Nhựt P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân thực hiện quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định như cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân
tích tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân các bị cáo, Viện kiểm sát đề nghị:
- Về trách nhiệm hình sự:
- + Áp dụng các điểm b khoản 2 Điều 251, điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 55, Điều 58 Bộ luật Hình sự để xử phạt Nguyễn Văn N từ 8 năm đến 09 năm tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” và từ 07 năm đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tổng hợp hình phạt chung là từ 15 năm đến 17 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 20/10/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo N.
- + Áp dụng các điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự để xử phạt Trần Quốc T từ 07 năm đến 08 năm tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo T.
- + Áp dụng các điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự để xử phạt Nguyễn Nhựt P từ 07 năm đến 08 năm tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo P.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
- + Tịch thu, tiêu hủy: lượng ma túy còn lại sau giám định và các dụng cụ liên quan đến việc sử dụng và mua bán trái phép chất ma túy.
- + Tịch thu, sung quỹ nhà nước: 01 xe mô tô biển số 67D2- 141-47, 02 điện thoại di động hiệu Iphone và số tiền 500.000đồng.
- + Trả lại Nguyễn Thị Trúc L2 01 điện thoại di động hiệu OPPO.
- + Buộc bị cáo T nộp lại 400.000 đồng là tiền dùng vào việc phạm tội.
Tại phiên tòa, các bị cáo N, T, P thừa nhận hành vi phạm tội không tranh luận, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về Quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng:
Trong giai đoạn điều tra và truy tố, Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, nên không xem xét đến.
[1.2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Xét thấy người có quyền lợi liên quan, người làm chứng đã có lời khai tại Cơ quan điều tra và lời khai của những người này phù hợp với lời khai nhận của bị cáo trong giai đoạn điều tra, nên việc vắng mặt của những người này không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử đối với vụ án.
[2] Về trách nhiệm hình sự:
[2.1] Lời khai của các bị cáo Nguyễn Văn N, Trần Quốc T, Nguyễn Nhựt P phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 20/10/2023, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám xét do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P lập ngày 20/10/2023, Kết luận giám định số: 198/KL-KTHS (MT-GT) ngày 26/10/2023 của Phòng K - Công an tỉnh A.
Căn cứ vào các chứng cứ vừa nêu trên có đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Văn N nhiều lần nhờ Trần Quốc T, Nguyễn Nhựt P mua giùm ma túy rồi đem bán lại cho nhiều người, N trên đường đi giao ma túy thì bị bắt quả tang thu giữ 4,1860 gam, loại Methamphetamine. Ngoài ra, N có hành vi nhiều lần tổ chức cho T, P và Trần Hoàng T2, Lê Văn Di T3 sử dụng trái phép chất ma tuý tại nhà của N. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 và điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; truy tố các bị cáo Trần Quốc T và Nguyễn Nhựt P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Đối với Trần Hoàng T2, Lê Văn Di T3, Trần Văn T1 có hành vi mua ma túy của N để sử dụng, chuyển cơ quan có thẩm quyền để xử lý hành chính là có căn cứ.
[2.2] Tính chất, mức độ của hành vi phạm tội.
Các bị cáo N, T, P là người đã trưởng thành, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc mua bán chất ma túy là vi phạm pháp luật, các bị đều nghiện ma túy, vì muốn có tiền mua ma túy để sử dụng và tiêu xài cá nhân, mà các bị cáo đã nhiều lần cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo N nhờ các bị cáo T, P mua giùm ma túy rồi đem bán lại nên các bị cáo N, T, P là đồng phạm về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, không có sự câu kết chặt chẽ với nhau, trong đó bị cáo N là chủ mưu, giữ vai trò chính; các bị cáo T, P cùng là người thực hành và có vai trò ngang nhau. Bị cáo N đã nhiều lần nhờ bị cáo T, P mua giùm ma túy về bán lại cho nhiều người nghiện để kiếm lời. Các bị cáo T, P vì muốn có ma túy sử dụng nên khi bị cáo N nhờ thì hai bị cáo cùng mua ma túy đem đến nhà giao cho N, rồi được N tổ chức việc cùng sử dụng chung ma túy tại nhà N. Ngoài ra, khi người nghiện đến nhà N mua ma túy, N còn cho mượn các dụng cụ để sử dụng ma túy. Hành vi phạm tội của các bị cáo N, T, P là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy, đồng thời làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội ở địa phương và là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do đó, cần phải xử phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo để răn đe, giáo dục và để phòng ngừa chung loại tội phạm này ở địa phương.
[2.3] Nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Các bị cáo Nguyễn Văn N, Trần Quốc T và Nguyễn Nhựt P không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Các bị cáo Nguyễn Văn N, Trần Quốc T và Nguyễn Nhựt P nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên có xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
Bị cáo N là chủ mưu, giữ vai trò chính nên phải chịu mức hình phạt cao hơn hai bị cáo T, P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, còn T, P có vai trò ngang nhau nên mức hình phạt bằng nhau; riêng N còn phải chịu thêm hình phạt của tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” nên bị cáo phải chấp hành hình phạt chung được tổng hợp của 02 tội.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 và khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, xét các bị cáo không có tài sản, không nghề nghiệp ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[3] Về biện pháp tư pháp:
Khối lượng Methamphetamine còn lại sau giám định 4,1315 gam là chất cấm lưu hành; 01 chai gas nhãn hiệu Sun, 01 chai nhựa nắp màu vàng, trên nắp có gắn nỏ thuỷ tinh và ống hút, 01 đầu khò gas mini màu trắng 02 nỏ thuỷ tinh, 02 cây kéo bằng kim loại, 01 cân điện tử là công cụ dụng cụ dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
01 xe mô tô biển số 67D2-141.47 của bị cáo P, 02 điện thoại di động hiệu Iphone của T và P, là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Số tiền 500.000 đồng thu giữ của N là tiền thu lợi bất chính từ việc mua bán ma túy nên tịch thu sung quỹ.
01 điện thoại di động hiệu OPPO thu giữ của L2, cho bị cáo N mượn, L2 không biết bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên trả lại cho L2.
Bị N có chuyển vào tài khoản của T 400.000 đồng để trả tiền mua bán ma túy còn nợ, số tiền này là công cụ, phương tiện sử dụng vào việc phạm tội nên buộc bị cáo T giao nộp để sung vào gân sách nhà nước.
[4] Về án phí: Các bị cáo N, T, P mỗi người phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn N, Trần Quốc T và Nguyễn Nhựt P cùng phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; riêng Nguyễn Văn N còn phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
1. Về trách nhiệm hình sự:
1.1. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251, điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 55, Điều 58 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tổng hợp hình phạt chung là 15 (mười lăm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 20/10/2023.
1.2. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Trần Quốc T 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 20/10/2023.
1.3. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Nhựt P 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 20/10/2023.
2. Về các biện pháp tư pháp:
Căn cứ vào Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- + Tịch thu tiêu hủy chất ma túy còn lại sau giám định 4,1315gam đựng trong 01 phong bì được niêm phong (vụ số 198/KL-KTHS(MT-GT) ngày 26/10/2023), 01 chai gas nhãn hiệu Sun, 01 chai nhựa nắp màu vàng có gắn nỏ thủy tinh và ống hút, 01 đầu khò gas mini, 02 nỏ thủy tinh, 02 cây kéo, 01 cân điện tử.
- + Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 xe mô tô biển số 67D2-141.47, 02 điện thoại di động hiệu Iphone và số tiền 500.000 đồng.
- + Trả lại Nguyễn Thị Trúc L2 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đen.
- + Buộc bị cáo Trần Quốc T nộp lại số tiền 400.000 đồng.
(Vật chứng, tài sản nêu trên hiện do Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Phú Tân, tỉnh An Giang đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/6/2024)
3. Về án phí:
Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc các bị cáo Nguyễn Văn N, Trần Quốc T và Nguyễn Nhựt P mỗi người phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Căn cứ vào Điều 333, Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Các bị cáo trong vụ án có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo 15 ngày tính từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thế Văn |
Bản án số 26/2024/HS-ST ngày 03/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 26/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn N và động phạm phạm tôi mua bán trái phép chất ma tuý
