|
TÒA ÁN ND HUYỆN NGA SƠN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 26/2024/HSST Ngày: 02-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Úy; bà Mai Thị Bình.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Yến Nhi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Tâm – Kiểm sát viên.
Ngày 02/8/2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa và điểm cầu thành phần Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 20/2024/TLST-HS ngày 11/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2024/QĐXXST-HS ngày 19/7/2024 đối với bị cáo:
Phan Thanh C - Sinh năm 1990, tại xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa - HKTT: Tiểu khu H, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn Q và bà Nguyễn Thị H; có vợ là Nguyễn Thị X; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25/01/2024 đến ngày 28/01/2024, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa - Có mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
- + Người làm chứng: Anh Ngô Khắc Đ - Sinh năm 2003 - Địa chỉ: Thôn B, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa - Vắng mặt.
- + Những người tham gia hỗ trợ tổ chức phiên tòa tại điểm cầu thành phần:
- Bà Nguyễn Thị N – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Ông Phạm Đình P – Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 25/01/2024, Công an huyện N nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc tại nơi ở của Phan Thanh C, trú tại tiểu khu H, thị trấn N, huyện N có các đối tượng tụ tập nghi vấn phạm tội về mua bán trái phép chất ma túy. Lực lượng Công an tiến hành kiểm tra thì bất ngờ nam thanh niên đang đứng cùng C bỏ chạy. Tại hiện trường, lực lượng Công an đã thu giữ: 01 (một) túi nilon trong suốt dạng túi zip, kích thước (3x2,7)cm bên trong chứa chất màu trắng dạng tinh thể và 01 (một) túi nilon trong suốt dạng túi zip, kích thước (3x3)cm, bên trong có 02 (hai) viên nén màu trắng dán ngoài bằng băng dính vải màu trắng cùng số tiền 1.600.000đ (một triệu sáu trăm nghìn đồng). Phan Thanh C khai nhận 02 túi nilon dạng túi zip vừa bị Công an thu giữ là ma túy của C đang mang ra bán cho nam thanh niên với giá 3.200.000đ (ba triệu hai trăm nghìn đồng), khi nam thanh niên mới đếm được 1.600.000đ thì bị lực lượng Công an phát hiện. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Phan Thanh C về hành vi mua bán trái phép chất ma túy, thu giữ toàn bộ số đồ vật, tài sản có liên quan.
Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Phan Thanh C tại tiểu khu H, thị trấn N, huyện N.
* Tài sản, vật chứng thu giữ:
- - Thu giữ khi bắt quả tang gồm: 01 (một) túi nilon trong suốt dạng túi zip, kích thước (3x2,7)cm bên trong chứa chất màu trắng dạng tinh thể và 01 (một) túi nilon trong suốt dạng túi zip, kích thước (3x3)cm, bên trong có 02 (hai) viên nén màu trắng dán ngoài bằng băng dính vải màu trắng cùng số tiền 1.600.000đ (một triệu sáu trăm nghìn đồng); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6SPlus màu hồng, gắn sim số 0834.065.111; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6SPlus màu hồng gắn sim số 0328.062.825; 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Masstel màu đen gắn sim số 0925.307.343.
- - Thu giữ khi khám xét nơi ở của C gồm: 01 (một) túi nilon trong suốt, dạng túi zip, kích thước (2x1,5)cm bên trong chứa chất màu trắng dạng tinh thể, 01 (một) cân điện tử màu xám và nhiều túi nilon trong suốt, dạng túi zip, kích thước khác nhau, được phát hiện trong ngăn kéo bàn trang điểm trong phòng ngủ của Phan Thanh C (tại tầng 2, phía bên trái cầu thang đi lên).
Toàn bộ tang vật đã được Cơ quan CSĐT niêm phong theo quy định. Ngày 25/01/2024, Cơ quan CSĐT ban hành Quyết định số 40/QĐ-CSĐT cầu Phòng K Công an tỉnh T giám định đối với vật chứng của vụ án.
Tại Kết luận giám định số 422/KL-KTHS ngày 26/01/2024, Phòng K Công an tỉnh T kết luận:
- - Chất màu trắng dạng tinh thể của phong bì niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,906g (không phẩy chín không sáu gam) loại: Ketamine.
- - Viên nén màu trắng số 1 của phong bì niêm phong ký hiệu M2 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,326g (không phẩy ba hai sáu gam) loại: MDMA.
- - Viên nén màu trắng số 2 của phong bì niêm phong ký hiệu M2 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,374g (không phẩy ba bảy bốn gam) loại: MDMA.
- - Chất màu trắng dạng tinh thể của phong bì niêm phong ký hiệu K1 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,082g (không phẩy không tám hai gam) loại: Methamphetamine.
Quá trình điều tra đã xác định được như sau: Bản thân Phan Thanh C là người sử dụng ma túy, khoảng giữa tháng 01/2024, C sử dụng số điện thoại 0328.062.xxx liên hệ với một người nam giới tên T ở huyện H để mua 20 viên ma túy tổng hợp dạng kẹo với giá 300.000đ/01 viên; 05 chỉ ma túy loại ketamine với giá 2.400.000đ/01 chỉ và 01 (một) túi ma túy đá (Methamphetamine) với giá 500.000đ rồi hẹn T đem ma túy đến khu vực ngã năm H1 thuộc tiểu khu Y, thị trấn N, huyện N để giao cho C. Sau khi mua được ma túy, C về nhà chia nhỏ để sử dụng và bán lại cho người nào có nhu cầu để hưởng chênh lệch đồng thời xóa nhật ký cuộc gọi với số di động của T, C cũng không lưu số điện thoại của T trong danh bạ điện thoại của mình.
Trưa ngày 25/01/2024, một nam thanh niên là bạn xã hội của C, sử dụng số điện thoại 0925.307.xxx, C lưu tên trong danh bạ là “Chở Nhân viên” đã sử dụng số điện thoại trên gọi đến số điện thoại 0834.065.xxx của C để hỏi mua ma túy. C đồng ý bán và hẹn nam thanh niên đến nhà để giao tiền nhận ma túy. Ngay sau đó nam thanh niên này đã đến trước cổng nhà Chung, C đi bộ ra cổng đem theo 01 (một) túi ma túy loại ketamine và 02 (hai) viên ma túy dạng kẹo - MDMA, đều bỏ trong túi nilon màu trắng ra gặp, giao bán cho nam thanh niên. Khi C đang giao ma túy thì lực lượng công an đến, nam thanh niên mua ma túy liền bỏ chạy, Phan Thanh C bị bắt giữ cùng số tang vật như đã nêu trên.
Ngoài lần bán ma túy bị bắt quả tang, quá trình làm việc với Cơ quan CSĐT, ngày 25/01/2024, C còn tự thú trước đó ngày 24/01/2024, C đã bán cho nam thanh niên tên Đ ở xã N 02 lần, lần thứ nhất bán 02 viên kẹo với giá 800.000đ, lần thứ 2 bán cho Đ nửa chỉ ke với giá 1.200.000đ. Đ sử dụng số điện thoại 0904.746.xxx gọi đến số điện thoại 0328.062.xxx của C để hỏi mua ma túy. C lưu tên Đ trong danh bạ điện thoại là “Đạt Ngbach".
Ngoài ra, C còn bán cho một số người là bạn bè xã hội nhưng không biết thông tin cụ thể.
Khi được Cơ quan CSĐT triệu tập, Ngô Khắc Đ, sinh ngày 01/4/2003, thôn B, xã N, huyện N trình bày ngày 24/01/2024 đã mua ma túy của C với số lượng và giá tiền như C trình bày.
Về nguồn gốc số ma túy C tàng trữ và bán cho người khác, C khai mua của một người nam giới tên T ở huyện H nhưng ngay sau khi mua được ma túy đã xóa nhật ký cuộc gọi với số di động của T, C cũng không lưu số điện thoại của T trong danh bạ điện thoại của mình. Qua kết quả cung cấp L điện thoại số thuê bao di động 0328.062.825 của Phan Thanh C trong khoảng thời gian từ ngày 05/01/2024 đến ngày 20/01/2024 của Tập đoàn V Chi nhánh T4, Phan Thanh C vẫn không xác định được số điện thoại của người bán ma túy cho C nên không có căn cứ tiếp tục điều tra, xử lý đối với người bán ma túy cho C.
Đối với Ngô Khắc Đ, là người đã mua ma túy của Phan Thanh C vào chiều ngày 24/01/2024 để bản thân sử dụng, số ma túy mua được Đ đã sử dụng hết, không xác định được khối lượng, do đó không có căn cứ xử lý Ngô Khắc Đ về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Do đó, Cơ quan CSĐT chuyển tài liệu cho Công an huyện N ra quyết định xử phạt vi phạm vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là đúng quy định của pháp luật.
Qua kết quả cung cấp của Công ty cổ phần V1, chủ thuê bao 0925.307.343 là Lưu Anh H2, sinh ngày 24/5/1976, đăng ký thường trú tại phường H, quận H, thành phố Hà Nội. Cơ quan CSĐT đã tiến hành xác minh tại phường H, kết quả tại phường H có công dân Lưu Anh H2, tuy nhiên H2 và gia đình đã chuyển khỏi địa phương, hiện không xác định được H2 đang sinh sống ở đâu nên không có căn cứ tiếp tục truy tìm.
Đối với số tang vật thu giữ khi khám xét khẩn cấp nơi ở của C, C khai nhận cân điện tử và các túi zip là đồ vật của C dùng để cân và đựng ma túy; 01 túi nilon bên trong chứa chất màu trắng dạng tinh thể là ma túy đá C sử dụng và bán lại cho ai có nhu cầu.
Toàn bộ vật chứng của vụ án được chuyển sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nga Sơn để bảo quản, chờ xử lý theo quy định của pháp luật, bao gồm:
- - Số ma túy còn lại sau giám định được đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi họ tên Lê Minh T1, Trần Thị Thúy H3, Nguyễn Xuân T2, Nguyễn Văn M và các hình dấu của Phòng KTHS Công an tỉnh T;
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus màu hồng, số IMEI: 353291072440546, gắn sim số 0834.065.111, đã qua sử dụng, được niêm phong trong một phong bì viền xanh đỏ, dán kín, tại mép dán phong bì có chữ ký, ghi rõ họ tên của Trần Minh H4, Lê Hùng C1, Trương Thị L1, Phan Thanh C, mặt trước phong bì có dòng chữ “ĐT1";
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus màu hồng, số IMEI: 353333074092063, gắn sim số 0328.062.825, đã qua sử dụng, được niêm phong trong một phong bì viền xanh đỏ, dán kín, tại mép dán phong bì có chữ ký, ghi rõ họ tên của Trần Minh H4, Lê Hùng C1, Trưởng Thị L2, Phan Thanh C, mặt trước phong bì có dòng chữ “ĐT2”;
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu MASSTEL, màu đen, gắn sim số 0925.307.343, số IMEI 1: 358044847026529, số IMEI 2: 358044847026537, đã qua sử dụng được niêm phong trong 01 phong bì viền xanh đỏ, dán kín, tại mép dán phong bì có chữ ký, ghi rõ họ tên của Trần Minh H4, Lê Hùng C1, Trịnh Cao T3, Vũ Văn N1, Phan Thanh C và các hình dấu tròn, màu đỏ của Công an thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, mặt trước phong bì có dòng chữ “MASSTEL”;
- - 01 (một) cân điện tử màu xám, các túi nilon trong suốt dạng túi zip, có kích thước khác nhau;
- - Số tiền 1.600.000đ (Một triệu sáu trăm nghìn đồng).
Từ những hành vi trên, Cáo trạng số 25/CT-VKSNS ngày 10/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Phan Thanh C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị HĐXX áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Phan Thanh C từ 08 năm đến 8 năm 06 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 25/01/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 BLTTHS:
- - Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy còn lại sau giám định được đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi họ tên Lê Minh T1, Trần Thị Thúy H3, Nguyễn Xuân T2, Nguyễn Văn M và các hình dấu của Phòng KTHS Công an tỉnh T; các túi nilon trong suốt dạng túi zip, có kích thước khác nhau; 01 (một) cân điện tử màu xám.
- - Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: Số tiền 1.600.000đ (một triệu sáu trăm nghìn đồng); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus màu hồng, số IMEI: 353291072440546, gắn sim số 0834.065.111, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus màu hồng, số IMEI: 353333074092063, gắn sim số 0328.062.825, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu MASSTEL, màu đen, gắn sim số 0925.307.343, số IMEI 1: 358044847026529, số IMEI 2: 358044847026537, đã qua sử dụng.
- - Truy thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 2.000.000đ của bị cáo do bán ma túy cho anh Ngô Khắc Đ mà có.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của KSV, của bị cáo và những người tham gia tố tụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thu thập đúng trình tự quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, Điều tra viên cũng như Kiểm sát viên đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ mà pháp luật quy định. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố là hợp pháp được chấp nhận để làm cơ sở giải quyết vụ án.
[2] Về tội danh:
Ngày 24/01/2024, Phan Thanh C đã 02 lần bán ma túy cho Ngô Khắc Đ tại trước cổng nhà Chung, thuộc tiểu khu H, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, cụ thể: một lần bán cho Đ 02 viên ma túy dạng kẹo, loại MDMA với giá 800.000đ, một lần bán cho Đ nửa chỉ ma túy loại ketamine với giá 1.200.000đ.
Khoảng 12 giờ 50 phút ngày 25/01/2024, tại cổng nhà của C, C bán 0,906g ma túy loại Ketamine và 0,7g ma túy loại MDMA cho một người nam giới được 1.600.000đ thì bị Công an huyện N phát hiện, bắt quả tang. Ngoài ra, C còn tàng trữ 0,082g ma túy loại Methamphetamine để sử dụng và bán cho ai có nhu cầu.
Tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng của các chất ma túy nêu trên so với mức tối thiểu đối với từng chất đó theo quy định tại khoản 2 Điều 251 BLHS là 20,1% (dưới 100%). Do đó, Phan Thanh C phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS như nội dung cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Bị cáo Phan Thanh C là người có năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ về hành vi mua bán chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự an toàn xã hội, đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy; đây còn là mối hiểm họa làm suy đồi đạo đức, lối sống, gây nguy hại cho thể chất lẫn tinh thần của con người và còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần được xử lý nghiêm minh mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS):
- - Về nhân thân: Bản thân bị cáo Phan Thanh C là người sử dụng ma túy.
- - Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng TNHS. Sau khi bị bắt, bị cáo đã tự thú về hành vi phạm tội ngày 24/01/2024; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; bị cáo có ông nội là Phan Văn Y và ông ngoại là Nguyễn Công H5 là người có công với cách mạng, được Nhà nước tặng thưởng H6, Huy chương. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của BLHS.
[5] Về hình phạt:
Từ những nhận xét trên HĐXX nghĩ cần lên cho bị cáo mức án nghiêm, bị cáo là người sử dụng ma túy, có nhân thân xấu nên cần lên hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo. Tuy nhiên, cần cân nhắc đến tình tiết giảm nhẹ nêu trên để quyết định mức hình phạt phù hợp cho bị cáo.
Bị cáo nghề nghiệp tự do, mức thu nhập không ổn định nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
[6.1] Về xử lý vật chứng:
- - Toàn bộ bao gói mở niêm phong và số ma túy hoàn lại sau giám định gồm: 0,856g (không phẩy tám năm sáu gam) chất màu trắng dạng tinh thể của phong bì ký hiệu M1; 0,232g (không phẩy hai ba hai gam) chất bột màu trắng của viên số 1 trong phong bì ký hiệu M2; 0,307g (không phẩy ba không bảy gam) chất bột màu trắng của viên số 2 trong phong bì ký hiệu M2; 0,066 (không phẩy không sáu sáu gam) chất màu trắng dạng tinh thể của phong bì ký hiệu K1- Là vật chứng của vụ án; các túi nilon trong suốt dạng túi zip, có kích thước khác nhau, 01 (một) cân điện tử màu xám – không có giá trị; cần tịch thu tiêu hủy.
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus màu hồng, số IMEI: 353291072440546, gắn sim số 0834.065.111, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus màu hồng, số IMEI: 353333074092063, gắn sim số 0328.062.825, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu MASSTEL, màu đen, gắn sim số 0925.307.343, số IMEI 1: 358044847026529, số IMEI 2: 358044847026537, đã qua sử dụng; Số tiền 1.600.000đ (một triệu sáu trăm nghìn đồng); cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.
[6.2] Về biện pháp tư pháp: Số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng) do bị cáo bán ma túy cho anh Ngô Khắc Đ 02 lần ngày 24/01/2024, cần truy thu của bị cáo nộp Ngân sách Nhà nước.
[7] Các tình tiết khác có liên quan đến vụ án:
Về nguồn gốc số ma túy C tàng trữ và bán cho người khác, C khai mua của một người nam giới tên T ở huyện H nhưng ngay sau khi mua được ma túy đã xóa nhật ký cuộc gọi với số di động của T, C cũng không lưu số điện thoại của T trong danh bạ điện thoại của mình. Qua kết quả cung cấp L điện thoại số thuê bao di động 0328.062.825 của Phan Thanh C trong khoảng thời gian từ ngày 05/01/2024 đến ngày 20/01/2024 của Tập đoàn V Chi nhánh T4, Phan Thanh C vẫn không xác định được số điện thoại của người bán ma túy cho C nên không có căn cứ tiếp tục điều tra, xử lý đối với người bán ma túy cho C.
Đối với Ngô Khắc Đ, là người đã mua ma túy của Phan Thanh C vào chiều ngày 24/01/2024 để bản thân sử dụng, số ma túy mua được Đ đã sử dụng hết, không xác định được khối lượng, nên không có căn cứ xử lý Ngô Khắc Đ về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên Công an huyện N ra quyết định xử phạt vi phạm vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là đúng quy định của pháp luật.
Qua kết quả cung cấp của Công ty cổ phần V1, chủ thuê bao 0925.307.343 là Lưu Anh H2, sinh ngày 24/5/1976, đăng ký thường trú tại phường H, quận H, thành phố Hà Nội. Cơ quan CSĐT đã tiến hành xác minh tại phường H, kết quả tại phường H có công dân Lưu Anh H2, tuy nhiên H2 và gia đình đã chuyển khỏi địa phương, hiện không xác định được H2 đang sinh sống ở đâu nên không có căn cứ tiếp tục truy tìm.
[7] Về án phí: Bị cáo Phan Thanh C phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:
- Tuyên bố: Bị cáo Phan Thanh C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt: Bị cáo Phan Thanh C 08 (tám) năm 03(ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 25/01/2024.
- Xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm b, c khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 BLTTHS:
- - Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ bao gói mở niêm phong và số ma túy hoàn lại sau giám định gồm: 0,856g (không phẩy tám năm sáu gam) chất màu trắng dạng tinh thể của phong bì ký hiệu M1; 0,232g (không phẩy hai ba hai gam) chất bột màu trắng của viên số 1 trong phong bì ký hiệu M2; 0,307g (không phẩy ba không bảy gam) chất bột màu trắng của viên số 2 trong phong bì ký hiệu M2; 0,066 (không phẩy không sáu sáu gam) chất màu trắng dạng tinh thể của phong bì ký hiệu K1; các túi nilon trong suốt dạng túi zip, có kích thước khác nhau; 01 (một) cân điện tử màu xám.
- - Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: Số tiền 1.600.000đ (một triệu sáu trăm nghìn đồng); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus màu hồng, số IMEI: 353291072440546, gắn sim số 0834.065.111, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus màu hồng, số IMEI: 353333074092063, gắn sim số 0328.062.825, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu MASSTEL, màu đen, gắn sim số 0925.307.343, số IMEI 1: 358044847026529, số IMEI 2: 358044847026537, đã qua sử dụng.
- (Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 15/7/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nga Sơn và Ủy nhiệm chi ngày 15/7/2024).
- - Truy thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng) của bị cáo Phan Thanh C.
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Phan Thanh C phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 BLTTHS: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Thị Thủy |
Bản án số 26/2024/HSST ngày 02/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA về hình sự sơ thẩm (mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 26/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Thanh Chung bị xử phạt 08 năm 03 tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo điểm b khoản 2 Điều 215 BLHS
