Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ANH SƠN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 26/2025/ST – HNGĐ

Ngày 18 tháng 3 năm 2025

“V/v Yêu cầu ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ANH SƠN – TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Phú.

Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tất Thành, ông Bùi Công Linh.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Quyên – Chức vụ: Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Anh sơn, tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn – Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 114/2024/TLST-HNGĐ ngày 03/10/2024 về việc “Yêu cầu ly hôn, nuôi con” giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Anh Vũ Ngọc T – Sinh năm: 1986.

Nơi cư trú: Thôn C, xã Đ, huyện A, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

* Bị đơn: Chị Lưu Thị A – Sinh năm: 1989

Nơi cư trú: Thôn C, xã Đ, huyện A, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt mặc dù được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ 2.

* Người làm chứng:

  1. 1,Bà Nguyễn Thị V – Sinh năm 1964
  2. Nơi cư trú: Thôn H, xã Đ, huyện A, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt
  3. 2, Ông Lưu Đình N – Sinh năm 1962
  4. Nơi cư trú: Xóm T, xã P, huyện T, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Tại phiên tòa nguyên đơn anh Vũ Ngọc T vắng mặt, tuy nhiên theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, anh T trình bày:

Anh và Chị Lưu Thị An kết H vào năm 2012, tiến hành đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện A, tỉnh Nghệ An trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên từ đầu năm 2024 thì vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, thường xuyên xích mích, cãi cọ. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do vợ chồng không có tiếng nói chung. Từ đó đến nay vợ chồng anh đã sống ly thân nhau. Hiện tại tình cảm vợ chồng không còn nữa nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh ly hôn với chị A.

Về con chung: Anh T và chị A có 02 con chung: Cháu Vũ Thị Hải Y, sinh ngày 19/6/2014 và cháu Vũ Ngọc Quang T1, sinh ngày 18/11/2024. Trường hợp ly hôn, Anh T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con vì các con đã xống với anh từ nhỏ cho đến nay, anh không muốn các con phải thay đổi môi trường sống mà các con đã quen thuộc. Anh T không yêu cầu chị A cấp dưỡng tiền nuôi con.

Về tài sản chung và nợ: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại phiên tòa bị đơn chị Lưu Thị A vắng mặt, do đó Toà án không lấy được lời khai, ý kiến của chị A.

- Tại phiên tòa hôm nay người làm chứng là bà Nguyễn Thị V vắng mặt nhưng trong quá trình giải quyết vụ án bà V trình bày:

Bà là mẹ đẻ của anh Vũ Ngọc T, còn chị A là vợ anh T (con dâu bà). Anh T và chị A kết hôn với nhau vào năm 2012. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh T, chị A về sống chung với gia đình bà. Anh T, chị An S được 02 người con chung là cháu Vũ Ngọc Quang T1, sinh ngày 22/12/2012 và Cháu Vũ Thị Hải Y, sinh ngày 19/6/2014. Thời gian đầu vợ chồng anh T, chị A chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên được một thời gian thì hai bên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính cách vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống. Mặc dù vợ chồng đã được gia đình bàn bạc khuyên giải nhưng vẫn không thành. Hiện tại vợ chồng đã ly thân từ lâu. Chị A đã bỏ đi làm ăn xa không về thăm gia đình, chỉ khi con cái ốm đau chị mới về thăm nhưng chỉ ở lại một đêm. Anh T (con trai bà) hiện nay đang làm nông nghiệp tại thôn H, xã Đ, huyện A, tỉnh Nghệ An. Còn chị A thì bà chỉ biết là chị đang đi làm ăn xa, thi thoảng con đau ốm chị A có về thăm một chút rồi lại đi, còn địa chỉ cụ thể, làm công việc gì thì chị A không nói. Hiện tại, hai con của anh T và chị A là Cháu T1 và cháu Y đang sống cùng bà và anh T từ nhỏ cho đến nay tại thôn H, xã Đ, huyện A, tỉnh Nghệ An.

- Tại phiên tòa hôm nay người làm chứng là ông Lưu Đình N vắng mặt nhưng trong quá trình giải quyết vụ án ông N trình bày:

Ông là bố đẻ của chị Lưu Thị A, còn anh Vũ Ngọc T là chồng chị A (con rể của ông). Chị A và anh T kết hôn vào năm 2012 tại UBND xã Đ, huyện A, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh T, chị A chung sống với nhau hạnh phúc. Tuy nhiên được một thời gian hai bên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính cách hai bên không hợp nhau, anh T có tính gia trưởng, lại còn hay chửi bới, rượu chè. Kể từ đó, hai bên xảy ra nhiều xích mích căng thẳng. Hiện tại vợ chồng đã sống ly thân. Chị A đã bỏ về nhà ông sinh sống một thời gian dài cho đến nay. Hai bên không còn tình cảm nữa. Vợ chồng anh T, chị A có 02 người con chung là cháu Vũ Ngọc Quang T1, sinh ngày 22/12/2012 và Cháu Vũ Thị Hải Y, sinh ngày 19/6/2014. Hiện nay, cả 02 cháu đang sống với anh T. Hiện tại, chị A đang làm ăn ở Bắc Ninh còn cụ thể địa chỉ ở đâu thì ông cũng không rõ. Quá trình đi làm ăn xa, chị A thường xuyên liên lạc về với gia đình, có dịp lễ tết, chị A vẫn về nhà thăm bố mẹ và các con. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng tại gia đình thì ông đã thông báo cho chị A biết. Do chị A phải đi làm ăn xa, không thể về Tòa án để giải quyết vụ, việc được. Qua ông, chị A có nhắn lại rằng: “Hiện tại chị đang phải đi làm ăn xa nên không thể về Tòa án để giải quyết được nên đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt chị. Về yêu cầu khởi kiện của anh T thì chị cũng đồng ý ly hôn và đề nghị giao 02 con chung của vợ chồng cho anh T nuôi dưỡng”

- Tại phiên Tòa đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Anh Sơn phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và nội dung vụ án như sau:

Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng trình tự tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, các đương sự đã tuân theo pháp luật tố tụng dân sự .

Về nội dung vụ án: Đề nghị căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 28, 35, 39, 227, 228 và Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

  • - Về quan hệ hôn nhân: Anh Vũ Ngọc T được ly hôn với chị Lưu Thị A.
  • - Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Vũ Ngọc Quang T1, sinh ngày 22/12/2012 và Cháu Vũ Thị Hải Y, sinh ngày 19/6/2014 cho anh Vũ Ngọc T trực tiếp nuôi dưỡng.
  • Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Không xét do anh Vũ Ngọc T không yêu cầu.
  • - Về án phí: Anh Vũ Ngọc T phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm vấn công khai tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Vũ Ngọc T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con khi ly hôn, Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự và thẩm quyền giải quyết là của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại thời điểm khởi kiện, bị đơn là chị Lưu Thị An cư T2 tại thôn H, xã Đ, huyện A, tỉnh Nghệ An. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn chị Lưu Thị A vắng mặt mặc dù được Toà án triệu tập hợp lệ. Nguyên đơn anh Vũ Ngọc T vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên việc giải quyết, xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định tại Điều 207 và Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Vũ Ngọc T và chị Lưu Thị An kết H với nhau vào năm 2012 trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện A, tỉnh Nghệ An, hôn nhân là hợp pháp.

Sau khi kết hôn, cuộc sống chung của vợ chồng hạnh phúc, tuy nhiên được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn tới mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính cách không hợp nhau, thường xuyên xẩy ra xích mích, cãi cọ. Hiện tại vợ chồng anh T, chị A đang sống ly thân.

Xét tình cảm giữa anh T, chị A thực sự không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Vũ Ngọc T là phù hợp với các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Anh T, chị A có 02 con chung: cháu Vũ Ngọc Quang T1, sinh ngày 22/12/2012 và Cháu Vũ Thị Hải Y, sinh ngày 19/6/2014. Sau khi vợ chồng ly thân cháu T1, cháu Y sống với anh T. Trường hợp ly hôn anh T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cả hai con và không yêu cầu chị A phải cấp dưỡng nuôi con. HĐXX xét thấy: Hiện tại các con chung của anh T, chị A đều sống với anh T từ nhỏ cho đến nay. Chị A hiện tại không có mặt tại địa phương nên không có điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng các con. Do đó việc giao các con chung là cháu T1, cháu Y cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: HĐXX không xét do anh Vũ Ngọc T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xét.

Về tài sản chung: Anh Vũ Ngọc T, chị Lưu Thị A không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Anh Vũ Ngọc T phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 28, 35, 39, 227, 228 và Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Vũ Ngọc T.

  • * Về quan hệ hôn nhân: Anh Vũ Ngọc T được ly hôn với chị Lưu Thị A.
  • * Về con chung: Giao con chung là cháu Vũ Ngọc Quang T1, sinh ngày 22/12/2012 và Cháu Vũ Thị Hải Y, sinh ngày 19/6/2014 cho anh Vũ Ngọc T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con tròn 18 tuổi, trưởng thành.
  • Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Anh Vũ Ngọc T không yêu cầu chị Lưu Thị A cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xét.
  • Sau khi ly hôn, bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
  • Vì lợi ích của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
  • * Về tài sản chung: Anh Vũ Ngọc T và chị Lưu Thị An T3 thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xét.
  • * Về án phí: Anh Vũ Ngọc T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn (Đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0007947 ngày 03/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An). Anh T đã nộp đủ án phí ly hôn.
  • * Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở UBND xã nơi người vắng mặt cư trú.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND huyện Anh Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Anh Sơn;
  • - UBND xã Đức Sơn;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Văn Phú

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2025/ST – HNGĐ ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ANH SƠN TỈNH NGHỆ AN về yêu cầu ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 26/2025/ST – HNGĐ
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ANH SƠN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Ngọc Th - Lưu Thị A "Yêu cầu ly hôn"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger