TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH LỤC TỈNH HÀ NAM Bản án số: 26/2025/HSST Ngày 27/03/2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH LỤC, TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Văn Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Quyết và bà Nguyễn Thị Điệp.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Bảy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 03 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 25/2025/HS-ST ngày 27 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2025/QĐXXST- HS ngày 12 tháng 03 năm 2025, đối với bị cáo:
Lương Thị L, sinh năm 1985 tại tỉnh Thanh Hoá; nơi cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn B, huyện B, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn T và bà Lương Thị V; có chồng là Đinh Văn H và có 02 con: Con lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không. Hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1989; nơi cư trú: Thôn T, xã L, huyện B, tỉnh Hà Nam; vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mối quan hệ quen biết từ trước, ngày 27/9/2023 chị Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1989, trú tại thôn T, xã L, huyện B, tỉnh Hà Nam hỏi vay của Lương Thị L, sinh năm 1985 trú tại tổ dân phố T, thị trấn B, huyện B, tỉnh Hà Nam số tiền 50.000.000 đồng để làm ăn thì L đồng ý và thỏa thuận về số tiền lãi là 5.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, với số tiền gốc 50.000.000 đồng tiền gốc vay thì chị H1 phải trả cho L số tiền lãi hàng tháng 7.500.000 đồng, mỗi tháng tính là 30 ngày. Sau khi đã thống nhất, L đưa cho chị H1 vay số tiền là 50.000.000 đồng; đồng thời, L tính luôn tiền lãi của tháng đầu tiên là 7.500.000 đồng, chị H1 chỉ nhận được số tiền 42.500.000 đồng. Chị H1 đã thanh toán số tiền lãi cho Lá từ ngày 27/9/2023 đến ngày 27/02/2024 là 05 tháng, với tổng số tiền là 37.500.000 đồng, bằng hình thức chuyển tiền từ số tài khoản 048349030001 Ngân hàng Thương mại cổ phần L1 của chị Nguyễn Thị Thu H1 đến số tài khoản 2902205260009 Ngân hàng N (A) của Lương Thị L. Đến ngày 27/02/2024, chị H1 không còn khả năng thanh toán tiền lãi thì L không yêu cầu chị H1 phải đóng lãi mà yêu cầu chị H1 trả số tiền gốc. Do chị H1 làm ăn thua lỗ, không có khả năng trả tiền nên L nhiều lần đến nhà chị H1 để đòi nợ. Ngày 14/01/2025, chị Nguyễn Thị Thu H1 đã đến Công an huyện B để trình báo về hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự của Lương Thị L. Sau khi tiếp nhận nội dung trình báo của chị H1, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B triệu tập Lương Thị L đến trụ sở để làm việc, lấy lời khai làm rõ nội dung vụ việc và tạm giữ các tài liệu, đồ vật, tài sản liên quan gồm:
- Tạm giữ của Lương Thị L:
- + 01 sổ phụ do Ngân hàng N (A) - Chi nhánh huyện B cấp, có tên khách hàng Lương Thị L, số tải khoản 2902205260009.
- + 01 điện thoại Iphone 14 Promax, vô màu vàng, bên trong lắp 01 sim có số thuê bao 0965044656.
- Chị Nguyễn Thị Thu H1 cung cấp:
- + 01 bản sao kê tài khoản gồm 11 tờ sao kê các giao dịch của số tài khoản 048349030001 mang tên Nguyễn Thị Thu H1 của Ngân hàng Thương mại cổ phần L1.
- + 01 quyển vở loại vở học sinh có dòng kẻ, bìa nhiều màu sắc, trang giấy đầu tiên trong quyển sổ có nhiều dòng chữ bằng mực màu xanh, có chữ ký ghi họ tên của Nguyễn Thị Thu H1.
Tại Cơ quan điều tra, Lương Thị L đã khai nhận toàn bộ hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự của bản thân như nội dung đã nêu trên, lời khai của L phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án. Xác định: Trong thời gian từ ngày 27/9/2023 đến ngày 27/02/2024, Lương Thị L cho chị Nguyễn Thị Thu H1 vay số tiền gốc 50.000.000 đồng với lãi suất 5.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, tương đương với mức lãi suất 182,5%/năm, gấp 9,125 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Bộ luật Dân sự là 20%/năm. Tổng số tiền lãi chị H1 đã trả cho L trong thời gian này là 37.500.000 đồng, trong đó L đã thu lợi bất chính của chị H1 số tiền 33.390.411 đồng, còn số tiền lãi hợp pháp mà L được hưởng theo quy định tại Bộ luật Dân sự là 4.109.589 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 28/CT-VKS- MT ngày 26/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam đã truy tố Lương Thị L về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36; Điều 50 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Lương Thị L phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”; xử phạt bị cáo L từ 6 tháng đến 9 tháng cải tạo không giam giữ; bị cáo bị bệnh hiểm nghèo, bị đái tháo đường, đang bị bệnh suy thận độ 4 phải đi viện, chạy thận thường xuyên, có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; bản thân bị cáo làm công việc tự do, không có thu nhập ổn định nên không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- + Đối với 01 sổ phụ ngân hàng tạm giữ của Lương Thị L, 01 bản sao kê và 01 quyển vở do chị Nguyễn Thị Thu H1 giao nộp, là vật chứng đã được đánh số bút lục, được chuyển cùng hồ sơ vụ án.
- + Tịch thu xung quỹ Nhà nước 01 điện thoại Iphone 14 Promax, vỏ màu vàng là công cụ phương tiện mà Lương Thị L sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.
- + Tịch thu tiêu huỷ 01 sim điện thoại mà Lương Thị L lắp vào chiếc điện thoại Iphone 14 Promax không còn giá trị sử dụng.
- Truy thu, nộp ngân sách Nhà nước:
- + Số tiền gốc 50.000.000 đồng của chị Nguyễn Thị Thu H1, đã vay của Lương Thị L với lãi suất cao và đến nay chị H1 chưa thanh toán, trả lại cho L.
- + Số tiền lãi 4.109.589 đồng đối với Lương Thị L, là số tiền lãi mà L đã thu của chị H1 theo mức lãi suất cao nhất quy định tại Bộ luật Dân sự.
Đối với số tiền thu lợi bất chính, buộc Lương Thị L phải trả cho chị H1 số tiền 33.390.411 đồng.
Tại phiên tòa, bị cáo Lương Thị L khai nhận hành vi của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Lục đã truy tố; không có ý kiến tranh luận gì; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, tỉnh Hà Nam; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Lục tỉnh Hà Nam, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về thủ tục tố tụng: Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Thu H1 đã được triệu tập, tống đạt thủ tục phiên toà hợp lệ. Chị H1 có đơn đề nghị xét xử giải quyết vắng mặt. Do đó, căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
[2] Về hành vi phạm tội và tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Lương Thị L khai nhận hành vi của mình đúng như trong nội dung bản Cáo trạng. Lời khai của bị cáo là phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ. Do đó, đủ cơ sở kết luận: Với mục đích thu lợi bất chính, trong khoảng thời gian từ ngày 27/9/2023 đến ngày 27/02/2024; tại địa bàn huyện B, tỉnh Hà Nam; Lương Thị L đã cho chị Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1989, trú tại thôn T, xã L, huyện B, tỉnh Hà Nam vay số tiền gốc 50.000.000 đồng, với lãi suất 5.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, tương đương mức lãi suất 182,5%/năm; gấp 9,125 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Bộ luật Dân sự là 20%/năm và đã thu lợi bất chính số tiền 33.390.411 đồng.
Hành vi nêu trên của bị cáo Lương Thị L đã phạm vào tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tương ứng tại khoản 1 Điều 201 của Bộ luật Hình sự.
Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam truy tố bị cáo Lương Thị L là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy:
Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo L không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo lần đầu phạm tội, hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lương Thị L đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân và ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo hiện đang mắc bệnh hiểm nghèo: Năm 2012 bị hỏng thận trái và đã cắt bỏ, tháng 8/2023 bị suy thận phải độ 4 và bị sung huyết giác mạc mờ cả 2 mắt phải điều trị khoa võng mạc do đái tháo đường tiểu đường tuýp 2 điều trị tại Bệnh viện M và bệnh suy thận phải điều trị hàng tháng tại Bệnh viện M. Chuẩn đoán: Bệnh đái tháo đường không phụ thuộc insuline (Có đa biến chứng); Bệnh lý tăng huyết áp; suy thận mãn tính; bệnh đa dây thần kinh do đái tháo đường (E10-E14 với ký tự chung là 4+); tăng lipid máu hỗ hợp. Hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn có đơn xin xác nhận của chính quyền địa phương do đó bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Về hình phạt chính: Hành vi phạm tội của bị cáo Lương Thị L là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý tín dụng của Nhà nước và lợi ích vật chất của người đi vay, làm xáo trộn thị trường tín dụng, gây mất ổn định trong hoạt động kinh tế; gây ra nhiều hệ luỵ cho xã hội như gia tăng tội phạm, mất ổn định an ninh trật tự và ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế- xã hội. Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng, xét thấy cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội nhưng cũng áp dụng một phần nào chính sách khoan hồng đối với người phạm tội lần đầu để bị cáo yên tâm cải tạo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bản thân đang mắc bệnh hiểm nghèo phải đi viện chữa trị bệnh thường xuyên; có đơn xin xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
[6] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- + Đối với 01 sổ phụ ngân hàng tạm giữ của bị cáo Lương Thị L, 01 bản sao kê và 01 quyển vở do chị Nguyễn Thị Thu H1 giao nộp, là các tài liệu thể hiện việc chị H1 vay tiền và chuyển khoản trả tiền lãi cho L, là vật chứng đã được đánh số bút lục, được chuyển cùng hồ sơ vụ án.
- + Tịch thu xung quỹ Nhà nước 01 điện thoại Iphone 14 Promax, vỏ màu vàng là công cụ phương tiện mà Lương Thị L sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.
- + Tịch thu tiêu huỷ 01 sim điện thoại mà Lương Thị L lắp vào chiếc điện thoại Iphone 14 Promax không còn giá trị sử dụng.
* Về biện pháp tư pháp:
- Truy thu, nộp ngân sách Nhà nước:
- + Truy thu số tiền gốc 50.000.000 đồng của chị Nguyễn Thị Thu H1 đã vay của Lương Thị L hiện chưa thanh toán, trả lại cho L.
- + Truy thu số tiền lãi 4.109.589 đồng đối với Lương Thị L mà L đã thu của chị H1 theo mức lãi suất cao nhất quy định tại Bộ luật Dân sự.
Buộc Lương Thị L phải trả cho chị H1 số tiền 33.390.411 đồng. Đây là số tiền lãi mà L đã thu lợi bất chính của chị H1.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lương Thị L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
[9] Các vấn đề khác của vụ án: Quá trình điều tra xác định chị Nguyễn Thị Thu H1 còn nhiều lần chuyển khoản số tiền khác nhau cho Lương Thị L, cả hai đều xác định là tiền của L cho chị H1 vay nhưng không tính lãi suất. Do vậy, không có căn cứ để xem xét, xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 36 và Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 và khoản 2 Điều 136, 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 5 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về hình sự: Tuyên bố bị cáo Lương Thị L phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lương Thị L 06 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo Lương Thị L cho UBND thị trấn B, huyện B, tỉnh Hà Nam giám sát, giáo dục trong thời hạn cải tạo không giam giữ.
Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Lương Thị L được tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh H nhận được quyết định thi hành án.
Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 100 của Luật thi hành án hình sự.
Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Lương Thị L.
3. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 14 Promax, vỏ màu vàng, số Imei1:359236738036588; Imei2: 359236739143243. Điện thoại được lắp 01 sim có số thuê bao 0956044656. Chưa kiểm tra chất lượng bên trong máy.
Tịch thu tiêu huỷ chiếc sim điện thoại có số thuê bao 0956044656 không còn giá trị sử dụng.
* Biện pháp tư pháp:
- Truy thu, nộp ngân sách Nhà nước:
- + Truy thu số tiền gốc 50.000.000 đồng đối với chị Nguyễn Thị Thu H1, đây là số tiền mà chị H1 đã vay của Lương Thị L với lãi suất cao và đến nay chị H1 chưa thanh toán, trả lại cho L.
- + Truy thu số tiền lãi 4.109.589 đồng đối với Lương Thị L. Đây là số tiền lãi mà L đã thu của chị H1 theo mức lãi suất cao nhất quy định tại Bộ luật Dân sự.
- + Buộc Lương Thị L phải trả cho chị H1 số tiền 33.390.411 đồng. Đây là số tiền lãi mà L đã thu lợi bất chính của chị H1.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/02/2025, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B và Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Lục tỉnh Hà Nam;).
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lương Thị L phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (Đối với các trường hợp Cơ quan Thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được yêu cầu thi hành án (Đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, có quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Vũ Văn Thanh |
Bản án số 26/2025/HSST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH LỤC, TỈNH HÀ NAM về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 26/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH LỤC, TỈNH HÀ NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Với mục đích thu lợi bất chính, trong khoảng thời gian từ ngày 27/9/2023 đến ngày 27/02/2024; tại địa bàn huyện B, tỉnh Hà Nam; Lương Thị L đã cho chị Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1989, trú tại thôn T, xã L, huyện B, tỉnh Hà Nam vay số tiền gốc 50.000.000 đồng, với lãi suất 5.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, tương đương mức lãi suất 182,5%/năm; gấp 9,125 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Bộ luật Dân sự là 20%/năm và đã thu lợi bất chính số tiền 33.390.411 đồng.
