TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 26/2025/HSST Ngày 26/3/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Quyên
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Nguyễn Việt Hưng
- 2. Bà Đặng Thị Sinh
- Thư ký phiên toà: Bà Nông Thị Lê Na - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngân - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 3 năm 2025 tại Hội trường Toà án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 25/HSST ngày 4/3/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2025/QĐXXST- HS ngày 14 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Lưu Bá Q; tên gọi khác: Không; sinh năm 1995; ĐKHKTT: Xóm Đ, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Không; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Con ông: Lưu Quang N, sinh năm 1970 và Con bà: Ngô Thị L, sinh năm 1975; Vợ: Lộc Quỳnh T, sinh năm 1997 ( đã ly hôn); Con: 02 con, con lớn sinh năm 2015, con bé sinh năm 2018; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Không
- Nhân thân:
- Tại Quyết định số 7503/QĐ-XPVPHC ngày 25/10/2017 của Ủy ban nhân dân thị xã P - tỉnh Thái Nguyên xử phạt Lưu Bá Q 7.500.000đ về hành vi: Mua, bán trái phép pháo. Chấp hành nộp tiền phạt xong vào ngày 26/10/2017.
- Bản án số 13/2020/HSST ngày 14/5/2020 của Tòa án nhân dân huyện Quảng Hòa (tỉnh Cao Bằng) xử phạt Lưu Bá Q 03 năm 06 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản”, quy định tại điểm c, khoản 2 Điều 173 BLHS, án phí 200.000đ.
Chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/4/2022, chấp hành xong án phí ngày 30/6/2020.
Bị can bị bắt tạm giam từ ngày 27/12/2024 đến ngày 23/01/2025 được huỷ bỏ biện pháp tạm giam. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại địa phương (Có mặt)
* Những người tham gia tố tụng khác:
- Bị hại: Bà Nông Thị M, sinh năm 1965 ( Vắng mặt có lý do )
Địa chỉ: Xóm P, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lưu Quang N, sinh năm 1970 ( Vắng mặt có lý do )
Địa chỉ: Xóm Đ, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên
- Người làm chứng:
- 1. Chị Triệu Thị Hồng N1, sinh năm 2003 ( Vắng mặt)
- 2. Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1989 ( Vắng mặt )
Địa chỉ: Xóm Đầm Dín, xã Phú Lạc, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
Địa chỉ: Xóm P, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 24/12/2024, Lưu Bá Q một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner X, Biển kiểm soát (BKS): 20F1- 710.36 của gia đình Q đến nhà bà Nông Thị M (sinh năm 1965, trú tại xóm P, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên) để trao đổi việc mua bán bán sắn khô với bà M. Sau đó, Q điều khiển xe mô tô đi về nhà mình rồi chở một bao tải sắn khô đến nhà bà M. Qua giao dịch, bà M mua sắn của Q với giá 140.000₫ (Một trăm bốn mươi nghìn đồng). Bà M nhận sắn xong, đưa trả Q 01 tờ tiền mệnh giá 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) nhưng Q không có tiền trả lại nên bà M đi sang nhà hàng xóm ở cách nhà khoảng 20m để đổi tiền lẻ trả Q. Khoảng 10 giờ 05 phút cùng ngày, sau khi bà M đi, còn lại một mình Q ở tại sân nhà bà M. Q phát hiện thấy có 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu SamSung Galaxy A15 của bà M để trên mặt bàn kê ở sân sát tường bếp. Lợi dụng lúc mọi người không để ý nên Q lén lút lấy trộm chiếc điện thoại trên cất giấu vào trong túi áo bên trái của Q đang mặc trên người rồi điều khiển xe mô đi đến quán nhà hàng xóm nơi bà M đang đổi tiền, bà M đưa 140.000đ cho Q xong, Q nhận tiền rồi điều khiển xe mô tô về nhà. Sau đó, Q đi đến bờ sông cách nhà Q khoảng 500m để chờ nếu không có ai phát hiện thì Q sẽ mang điện thoại đi bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Đến khoảng 17 giờ 00 phút cùng ngày, Q biết hành vi trộm cắp điện thoại đã bị phát hiện nên đã về nhà đưa điện thoại trên cho ông Lưu Quang N (sinh năm 1970, là bố của Q) để nhờ ông N trả lại chiếc điện thoại trên cho bà M. Ngày 25/12/2024, ông N đem chiếc điện thoại trên đến giao nộp cho Công an xã P - huyện Đ để xác minh. Ngày 26/12/2024, Q đến Công an xã P đầu thú, khai nhận hành vi Q trộm cắp chiếc điện thoại của bà M như nêu trên.
Đối với bà Nông Thị Mai S khi phát hiện bị mất chiếc điện thoại trên nên đã có đơn trình báo Công an xã P, huyện Đ giải quyết.
Xét thấy hành vi của Q có dấu hiệu của tội phạm nên Công an xã P đã chuyển hồ sơ, vật chứng đến Cơ quan CSĐT - Công an huyện Đ để xác minh, giải quyết theo thẩm quyền.
- Tại Kết luận định giá tài sản số 47 ngày 30/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận: Giá trị một chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Samsung Galaxy A15, đã qua sử dụng, mua mới tháng 12 năm 2024. Tại thời điểm tháng 12/2024 có giá trị là 2.800.000đ (Hai triệu tám trăm nghìn đồng).
Tại cơ quan điều tra, Lưu Bá Q đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản (chiếc điện thoại trên). Lời khai của Q phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng; phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập được như: Biên bản xác định hiện trường, Kết luận định giá tài sản, Biên bản kiểm tra dữ liệu thu từ camera của gia đình bà M, vật chứng thu giữ, các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng của vụ án gồm: 01 (một) chiếc điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Samsung Galaxy A15. Ngày 20/01/2025, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Đ đã trả lại cho bà M quản lý, sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Bà Nông Thị M đã nhận lại tài sản và không yêu cầu Lưu Bá Q bồi thường.
Tại bản cáo trạng số 29/CT - VKSNDĐT ngày 02/3/2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đã quyết định truy tố về tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà bị cáo Q khai nhận toàn bộ hành vi đúng như lời khai tại Cơ quan điều tra và bản cáo trạng mô tả.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ giữ nguyên bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lưu Bá Q về tội “Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Lưu Bá Q từ 15 (Mười lăm) tháng đến 18 (Mười tám) tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
* Về phần dân sự: Bị hại là bà Nông Thị M không có yêu cầu bồi thường gì.
* Về án phí: Bị cáo Q phải chịu án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Trong phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo nói lời sau cùng, bị cáo M1 đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng thu được và các chứng cứ tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 10 giờ 05 phút ngày 24/12/2024, tại nhà bà Nông Thị M thuộc xóm P, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Lưu Bá Q đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A15 của bà M có giá trị 2.800.000₫ (Hai triệu tám trăm nghìn đồng). Ngày 26/12/2024, Q đến Công an xã P đầu thú. Tài sản đã thu hồi trả lại bà M quản lý, sử dụng. Về trách nhiệm dân sự: Bà M không yêu cầu bồi thường.
Hành vi nêu trên của Lưu Bá Q đã phạm vào tội: “Trộm cắp tài sản", tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[3]. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ.
Nội dung điều luật quy định như sau:
Điều 173. Tội trộm cắp tài sản:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
[4]. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng:
- Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu đối với tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị xét xử bằng bản án có hiệu lực pháp luật và chưa được xoá án tích và lại là thanh niên ham chơi, đua đòi, lười lao động, nghiện ma tuý do cần tiền để tiêu xài cá nhân nên đã đi vào con đường phạm tội.
- Đối chiếu các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Q thành khẩn khai báo, ăn năn hối lỗi về hành vi của mình nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Q đã đầu thú nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự
[5]. Về hình phạt: Xét về tính chất, mức độ, hành vi của bị cáo cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung. Để đảm bảo tính nghiêm minh của luật pháp cần áp dụng mức hình phạt tù cách ly bị cáo Q ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội. Mức hình phạt mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp và cần được chấp nhận.
Liên quan đến vụ án:
Ông Lưu Quang N và bà Ngô Thị L là bố mẹ của Q, là đồng sở hữu chiếc xe mô tô BKS: 20F1 - 710.36. Quá trình điều tra ông N, bà L không biết Q sử dụng xe mô tô đi trộm cắp tài sản nên Cơ quan CSĐT, Công an huyện Đ không xử lý đối với N và bà L.
[6]. Về hình phạt bổ sung: Lẽ ra cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Q nhưng xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản gì riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về phần dân sự: Bà Nông Thị M không yêu cầu bị cáo Q bồi thường và không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự đối với Q.
[8]. Về án phí: Bị cáo Q phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự,
Tuyên bố: Bị cáo Lưu Bá Q phạm tội “Trộm cắp tài sản
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Lưu Bá Q: 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày thi hành bản án ( được trừ ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/12/2024 đến ngày 23/01/2025)
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Áp dụng Điều 329 BLTTHS năm 2015: Quyết định tạm giam bị cáo 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu gì, nên không xem xét.
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án: Bị cáo Lưu Bá Q phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm vào Ngân sách nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm, Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt bản án hoặc ngày niêm yết bản án theo quy định./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phan Thị Quyên |
Bản án số 26/2025/HSST ngày 26/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 26/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
