Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN MÔ- TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2025/HS - ST

Ngày: 27/06/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ - TỈNH NINH BÌNH.

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Anh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Mão, ông Tạ Văn Toan

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Thị Minh Thư - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 27/2025/TLST - HS, ngày 16 tháng 06 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2025/QĐXXST - HS ngày 16 tháng 06 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Tống Xuân H, sinh năm: 1999, tại tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: Tổ dân phố D, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Tống Xuân S và bà Lê Thị S1; có vợ Đỗ Thị H1 và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 16/01/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình xử phạt 15 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” (Ngày 21/01/2021, H chấp hành xong hình phạt tù).

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/05/2025 đến ngày 28/05/2025 chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N (Có mặt).

  2. Tống Duy P, sinh năm: 2000, tại tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: Tổ dân phố D, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Tống Duy P1 và bà Tạ Thị L; có vợ Lê Thị Huyền T và 02 con; Tiền án, tiền sự: Không

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/01/2025 đến ngày 15/01/2025 chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N (Có mặt).

  3. Đặng Văn T1; sinh năm 1997; tại tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: Tổ dân phố D, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn M và bà Tống Thị L1; chưa có vợ, có 01 con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 10/09/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. (Ngày 21/04/2017, Đặng Văn T1 chấp hành xong hình phạt tù).

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/01/2025 đến ngày 15/01/2025 chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N (Có mặt).

  4. Đoàn Thị N; Sinh năm 2002 tại tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Bá M1 và bà Tăng Thị P2; chưa có chồng, con; Tiền án, tiền sự: Khôn;

    Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 30/05/2025, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N (Có mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án

  • Chị Đỗ Thị H1, sinh năm 1997 (Vắng mặt).
  • Trú tại: Tổ dân phố D, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình.
  • Chị Hoàng Thị T2, sinh năm 2001 (Vắng mặt).
  • Trú tại: Đội 1 thôn Kem, xã Tiên Yên, huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang
  • Anh Nguyễn Văn M2, sinh năm 2005 (Vắng mặt).
  • Trú tại: thôn Yên Cư 1, xã Khánh Cư, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình
  • Anh Nguyễn Ngọc T3, sinh năm 2006 (Vắng mặt).
  • Trú tại: thôn P, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình
  • Anh Vũ Xuân K, sinh năm 2003 (Vắng mặt).
  • Trú tại: xóm Trại, xã Khánh Dương, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình
  • Anh Nguyễn Văn S2, sinh năm 1987 ( Có mặt).
  • Trú tại: xóm M, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đoàn Thị N và Đặng Văn T1 có quan hệ quen biết nhau từ trước, ngày 05/01/2025 N sử dụng tài khoản zalo “Nhung B” cài đặt trên điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax để liên lạc với T1 qua tài khoản zalo "Beer" cài đặt trên điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 của T1 hỏi mua ma tuý Ketamine với mục đích sử dụng cho bản thân nhưng T1 không có. Đến chiều ngày 06/01/2025, N tiếp tục liên hệ qua zalo nhờ T1 mua hộ cho N 2.000.000 đồng ma túy Ketamine thì T1 đồng ý. Do cũng có nhu cầu sử dụng ma túy nên T1 gọi điện từ tài khoản M3 “Đặng T1” đến tài khoản tên “Tống Duy P” của Tống Duy P để hỏi mua của P 7.000.000 đồng ma túy Ketamine (T1 mua hộ cho N 2.000.000 đồng và mua cho bản thân sử dụng 5.000.000 đồng), T1 nói với P chia ma túy ra làm hai túi thì P đồng ý. Sau đó T1 sử dụng tài khoản ngân hàng M5 số 0385458622 chủ tài khoản Đặng Văn T4 là em trai T1 chuyển số tiền 5.000.000 đồng đến tài khoản ngân hàng M5 số [...] của P và nợ lại số tiền 2.000.000đồng. Sau khi nhận tiền, P sử dụng tài khoản Messenger “Tống Duy P” gọi đến tài khoản M3 “Quân Già” của Tống Xuân H hỏi mua của H 7.000.000 đồng ma túy Ketamine, H đồng ý và yêu cầu P chuyển tiền. Sau khi liên lạc với H thì P sử dụng tài khoản ngân hàng M5 số [...] chuyển số tiền 5.000.000 đồng đến tài khoản ngân hàng M5 số 1111113333333 của H, nợ lại số tiền 2.000.000 đồng. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, T1 nhắn tin mã QR tài khoản ngân hàng của mình cho N để chuyển tiền mua ma túy, N sử dụng tài khoản ngân hàng M5 số 0834408668 chuyển số tiền 2.000.000 đồng đến tài khoản của T1. Sau khi nhận được tiền, T1 tiếp tục chuyển cho P số tiền 1.500.000 đồng, xin nợ lại 500.000 đồng thì P đồng ý. Ngay sau đó P chuyển số tiền 1.500.000 đồng cho H và nói với H nợ lại số tiền 500.000 đồng ở chỗ T1, H đồng ý và nói P đến nhà H lấy ma túy. Sau đó P điều khiển xe ô tô nhãn hiệu MAZDA BKS 35A-304.23 (đăng ký xe mang tên chị Đỗ Thị H1, sinh năm 1997 trú tại tổ dân phố D, thị trấn Y, huyện Y là vợ của H) do P thuê để kinh doanh dịch vụ chở khách đi đến nhà H. Đến nhà H, P đi lên tầng 2 phòng ngủ của vợ chồng H, tại đây H đưa cho P 02 túi ma túy Ketamine trong đó có 01 túi bên trong có 06 túi ma túy và 01 túi bên trong có 08 túi ma túy. Sau khi mua được ma túy của H, P liên hệ với T1 và hẹn T1 đến khu vực cổng quán K2 có địa chỉ tại tổ dân phố P, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình lấy ma túy đồng thời điều khiển xe ô tô BKS 35A-304.23 đi đến cổng quán K2 giao ma túy cho T1. T1 nhận ma túy từ P rồi nói sẽ đưa đi cất giấu 01 túi ma túy vì T1 không muốn mang theo nhiều ma túy cùng một lúc. Sau đó, T1 mở túi ma túy bên trong có 08 túi bỏ thêm 03 viên ma túy MDMA T1 đã mang theo trước đó rồi xuống xe mang túi ma túy đó giấu ở bãi đất trống gần đó, túi ma túy bên trong có 06 túi còn lại T1 bỏ vào trong túi quần, sau đó lên xe bảo P chở sang xã K, huyện Y để giao cho N. Trên đường đi, T1 liên hệ với N và được N gửi vị trí nơi mình đang ở. Sau khi liên lạc với T1, N rủ bạn là Vừ Thị P3 (tên thường gọi là H2) và Hoàng Thị T2 sinh năm 2001 trú tại đội 1, thôn K, xã T, huyện Q, tỉnh Hà Giang đi chơi cùng thì P3, T2 đồng ý. Khi gặp, T1 rủ N đi chơi, do không muốn mang ma túy theo người nên N nói với T1 không lấy ma túy nữa thì T1 đồng ý và không giao túi ma túy cho N nữa sau đó N vào gọi P3, T2 đi ra xe. Lúc này T1 rủ đi hát tại karaoke và bảo P chở đến quán Đất V có địa chỉ tại xóm M, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình do anh Nguyễn Văn S2 làm chủ. Trên đường đi, T1 gọi điện từ tài khoản zalo tên “Beer” của T1 đến tài khoản zalo tên “Nguyễn Văn M2” đăng ký bằng số điện thoại “0365.510.xxx” của Nguyễn Văn M2, sinh năm 2005, trú tại thôn Y, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình rủ M2 sang quán kaoke Đất Việt hát thì M2 đồng ý. Khi này, M2 đang chơi bi a ùng Nguyễn Trung H3, sinh năm 2005, trú tại thôn Y, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình và Nguyễn Ngọc T3, sinh năm 2006, trú tại xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình tại một quán bi-a ở xã K, huyện Y thì M2 rủ T3 và H3 cùng đến quán Karaoke Đất V chơi. Đến khoảng 22 giờ 15 phút cùng ngày, T1 cùng N, P3, T2 đến quán Karaoke Đất V thuê phòng 302 để hát còn P điều khiển xe ô tô đi về phòng trọ của bạn gái là Bùi Thị Vân A sinh năm 1999 trú tại phường N, thành phố H, tỉnh Ninh Bình chơi. Sau khi vào phòng, T1 hát khoảng 2, 3 bài thì N nói với P3, T2 "Chơi một tý nhỉ", hiểu ý N rủ sử dụng ma túy nên P3 và T2 đồng ý. Khi này, T1 nói "bật nhạc lên để chơi", N nói "ok anh" rồi đến màn hình điều khiển bật nhạc N1 (nhạc sàn), bật nhạc xong nhung hỏi T1 "có ke chưa?". Hiểu ý của N hỏi có ma túy Ketamine chưa nên T1 nói "Có rồi" và hỏi "Có ai biết xào không?" thì N nói "Để cho H2 (P3) nó xào". Sau đó T1 đưa 01 túi nilon nhỏ bên trong có ma túy Ketamine cho N và nói "Ai biết xào thì xào đi". N cầm túi ma túy để lên bàn chỗ P3 và đưa cho P3 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng để P3 "xào" ma túy, cùng lúc này T1 cũng đưa cho P3 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng cuộn thành ống, cố định bằng vỏ đầu lọc điếu thuốc lá màu vàng. Pà gấp đôi tờ tiền theo chiều dọc rồi đổ ma túy Ketamine trong túi nilon vào tờ tiền, dùng bật lửa hơ nóng dưới tờ tiền sau đó dùng thân bật lửa miết bên ngoài tờ tiền cho ma túy bên trong mịn ra thành bột. Sau khi xào xong, P3 dùng ống hút bằng tờ tiền chia số ma túy đã "xào" thành 04 mô nhỏ, phần còn lại vun thành mô lớn hơn. Pà đưa ống hút và tờ tiền 5.000 đồng chứa ma túy đã "xào" cho T1, T1 đã dùng ống hút, hút một phần ma túy qua mũi vào cơ thể. Sau khi T1 sử dụng xong lần lượt đến N, T2 và P3 sử dụng. Sau khi sử dụng xong Pà gấp tờ tiền lại để trên bàn. Một lúc sau, P3 lại mở tờ tiền ra và chia số ma túy thành 4 mô nhỏ, số ma túy còn lại vun thành một mô lớn rồi tiếp tục đưa ma túy cho lần lượt T1, N, T2 và P3 sử dụng. Sau 2 lần sử dụng thì số ma túy còn lại ít nên T1 đưa cho P3 01 túi ma túy nữa để P3 "xào" rồi tiếp tục đưa cho T1, N, T2 và P3 sử dụng. Đến khoảng 22 giờ 45 phút cùng ngày, M2, T3 và H3 bắt xe taxi đến quán karaoke Đất Việt. Khi đến nơi, M2, T3, H3 vào phòng 302 gặp T1, T1 giới thiệu cho mọi người quen nhau rồi ném 01 túi ma túy lên bàn nói Pà đổ số ma túy trong tờ tiền 5.000 đồng ra chiếc đĩa sứ để trên bàn và xào số ma túy T1 vừa bỏ ra. Pà đổ ma túy ra đĩa sứ rồi xé vỏ bao thuốc lá Thăng L2 lấy mảnh bìa cứng xào, chia số ma túy trên đĩa thành 04 đường, đưa cho T1 sử dụng 01 đường và lần lượt N, T2, P3 mỗi người sử dụng 1 đường, sau khi sử dụng xong thì P3 để đĩa trên bàn. Sau đó T3 tự đi đến chỗ để đĩa sứ dùng móng tay của ngón út bàn tay phải xúc một lượng ma túy ketamin trên đĩa đưa lên mũi hít vào cơ thể, khi T3 sử dụng xong thì M2 cũng dùng móng tay xúc ma túy trong đĩa sứ để sử dụng. Sau khi nhóm của M2 đến thì T1 gọi điện cho P qua ứng dụng messenger nhờ P đến khu vực bãi đất trống gần quán K2 lấy túi ma túy mà T1 cất giấu trước đó mang lên quán karaoke Đất Việt cho T1 thì P đồng ý. Sau đó, P một mình điều khiển xe ô tô BKS 35A-304.23 đi đến khu vực bãi đất trống gần quán K2 lấy túi nilon chứa 08 túi ma túy loại ketamin và 03 viên ma túy loại MDMA của T1 đã cất giấu bỏ vào túi quần rồi quay lại đón Vân A cùng đi đến quán Karaoke Đất V giao cho T1. Cùng lúc này, M2 đi ra ngoài gọi điện qua ứng dụng Messenger từ tài khoản của M2 tên “Nguyễn Văn M2” đến tài khoản tên “Vũ Văn K1” của Vũ Xuân K, sinh năm 2003, trú tại xóm T, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình bảo K chở một nhân viên nữ đến quán Karaoke Đất Việt. Khoảng 15 phút sau, K cùng U đi vào phòng 302, thấy có ma túy ketamin trên đĩa sứ đặt trên bàn thì K dùng móng tay của ngón út bàn tay phải xúc một lượng ma túy ketamin trên đĩa đưa mũi hít vào cơ thể. Lúc sau, P và Vân A đến phòng 302, P đưa túi ma túy cho T1, T1 bỏ túi ma túy vào trong quần còn P ngồi ở ghế cùng chị Vân A. Khi này, T1 nói với K “Em tỉnh thì em xào đi”, thì K cầm một mảnh nhựa có sẵn trên bàn và chia một phần ma túy ketamin còn lại trên đĩa sứ thành đường kẻ để tiếp tục sử dụng. Lúc này, K chưa tiếp tục sử dụng ma túy ngay mà đi ra khỏi phòng 302 để đi vệ sinh, N, P3, T2, T3, M2 cũng đi ra khỏi phòng.

Đến hồi 23 giờ 10 phút cùng ngày, khi P, T1, H3, Vân A, U đang ở trong phòng 302 thì bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y kiểm tra, phát hiện. Thu giữ tại mặt bàn kính bên phải có 01 chiếc đĩa sứ màu trắng, hình vuông, trên bề mặt chiếc đĩa có chứa chất bột dạng tinh thể màu trắng; 01 chiếc bật lửa ga, vỏ nhựa màu đỏ, trên bề mặt vỏ nhựa có ghi “555 VIP HOA VIỆT”; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “Thăng Long” màu vàng; 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng; 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng được cuộn tròn dạng ống hút, hai đầu tờ tiền được cố định bằng vỏ giấy của đầu lọc thuốc lá màu vàng. Tại vị trí góc tường phía trong bên trái, cơ quan điều tra thu giữ 01 túi nilon trong suốt kích thước (9,5 x 6) cm, miệng túi có khóa kẹp bằng nhựa, có đường kẻ chỉ màu đỏ bên trong có 03 túi nilon trong suốt có cùng đặc điểm, kích thước (2,5 x 2,5)cm, miệng túi có khóa kẹp nhựa, có đường kẻ chỉ màu xanh, bên trong chứa chất dạng tinh thể màu trắng; 01 túi nilon trong suốt kích thước (9,5x6) cm, miệng túi có khóa kẹp bằng nhựa, có đường kẻ chỉ màu đỏ, bên trong có 08 túi nilon trong suốt có cùng đặc điểm, kích thước (2,5 x 2,5) cm, miệng túi có khóa kẹp nhựa, có đường kẻ chỉ màu xanh, bên trong có chứa chất dạng tinh thể màu trắng và 03 viên nén màu xám, có cùng đặc điểm kích thước (1,2 x 0,8 x 0,5)cm. Tại vị trí dưới nền nhà bên cạnh ghế ngồi phía trái có 01 túi nilon trong suốt kích thước (2,5 x 2,5)cm, miệng túi có khóa kẹp nhựa, có đường kẻ chỉ màu xanh, bên trong có bám dính chất dạng tinh thể màu trắng. Quá trình thu giữ, Cơ quan điều tra đã tiến hành thu giữ và niêm phong như sau: Chất bột màu trắng trên đĩa sứ được cho vào trong 01 túi nilon trong suốt KT(7x4)cm, niêm phong trong phong bì ký hiệu KT1; 01 chiếc đĩa sứ màu trắng, 01 chiếc bật lửa ga, 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long, 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng được cho vào hộp bìa cát tông KT(26,5x26,5x11)cm và niêm phong theo quy định; 01 túi nilon KT(9,5x6)cm bên trong có 03 túi nilon được ký hiệu lần lượt là KT2, KT3, KT4 được cho vào phong bì giấy được niêm phong theo quy định; 01 túi nilon KT(9,5x6)cm bên trong có 08 túi nilon được ký hiệu lần lượt là KT6, KT7, KT8, KT9, KT10, KT11, KT12 và 03 viên nén màu xám ký hiệu KT13 được cho vào phong bì giấy được niêm phong theo quy định; 01 túi nilon trong suốt KT(2,5x2,5)cm, miệng túi có khóa kẹp nhựa có đường kẻ chỉ màu xanh bên trong có bám dính chất dạng tinh thể màu trắng, ký hiệu KT14.

Tại thời điểm làm việc tại quán K3, Đặng Văn T1, Tống Duy P chưa khai nhận về nguồn gốc số ma túy mà Cơ quan CSĐT Công an huyện Y phát hiện, thu giữ tại phòng 302 quán Karaoke Đất Việt. Đến ngày 07/01/2025, khi làm việc với Cơ quan CSĐT Công an huyện Y thấy không thể che giấu được và muốn được hưởng sự khoan hồng của pháp luật nên T1 và P đã đầu thú và khai nhận toàn bộ nội dung sự việc.

Căn cứ tài liệu điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Tống Xuân H tại tổ dân phố D, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. Quá trình khám xét khẩn cấp đã thu giữ tại phòng ngủ của vợ chồng Tống Xuân H có một thùng nhựa màu xanh cao 19 cm, kích thước miệng thùng (23x23)cm, kích thước mặt đáy (17x17)cm, thùng nhựa đặt sát mép tường phòng ngủ phát hiện nhiều đồ vật có bám dính chất dạng tinh thể màu trắng, cụ thể: Các chất dạng tinh thể màu trắng bám dính ở đáy của thùng nhựa (ký hiệu là KX1) được thu giữ và bỏ vào trong một túi nilon màu trắng, miệng túi có kẹp chỉ màu đỏ, kích thước (13x8)cm; 01 túi nilon màu trắng, miệng túi có đường kẹp chỉ màu đỏ, kích thước (13x8)cm, bên trong túi có bám dính chất dạng tinh thể màu trắng (ký hiệu là KX2); 01 túi nilon màu trắng, miệng túi có đường kẹp chỉ màu đỏ, kích thước (13x8)cm, bên trong túi có bám dính chất dạng tinh thể màu trắng (ký hiệu là KX3); 01 túi nilon màu trắng, miệng túi có đường kẹp chỉ màu đỏ, kích thước (9,5x6)cm, bên trong túi có bám dính chất dạng tinh thể màu trắng (ký hiệu là KX4); 01 túi nilon màu trắng, miệng túi có đường kẹp chỉ màu đỏ, kích thước (9,5x6)cm, bên trong túi có chứa chất dạng tinh thể màu trắng (ký hiệu là KX5); 01 túi nilon màu trắng, miệng túi có đường kẹp chỉ màu đỏ, kích thước (9,5x6)cm, bên trong túi có bám dính chất dạng tinh thể màu trắng (ký hiệu là KX6); 01 túi nilon màu trắng, miệng túi có đường kẹp chỉ màu đỏ, kích thước (9,5x6)cm, bên trong túi có bám dính chất dạng tinh thể màu trắng (ký hiệu là KX7); 01 miếng vỏ quả màu cam kích thước (7x3)cm, bề mặt vỏ có bám dính chất dạng tinh thể màu trắng (ký hiệu là KX8) được thu giữ và bỏ vào trong một túi nilon màu trắng, miệng túi có kẹp chỉ màu đỏ, kích thước (13x8)cm; 01 miếng vỏ quả màu cam kích thước (9x5)cm, bề mặt vỏ có bám dính chất dạng tinh thể màu trắng (ký hiệu là KX9) được thu giữ và bỏ vào trong một túi nilon màu trắng, miệng túi có kẹp chỉ màu đỏ, kích thước (13x8)cm; 01 vỏ túi nilon kích thước (8x6)cm, viền màu trắng, một mặt có in hình lựu đạn màu đỏ, đen, vàng, một mặt có in nhiều chữ nước ngoài, trên túi có vết rách dài 7,5cm, bên trong túi có chứa các chất dạng tinh thể màu trắng (ký hiệu KX10), toàn bộ được thu giữ và bỏ vào trong một túi nilon màu trắng, miệng túi có kẹp chỉ màu đỏ, kích thước (13x8)cm; 01 vỏ túi nilon kích thước (8x6)cm, viền màu trắng, một mặt có in hình lựu đạn màu đỏ, đen, vàng, một mặt có in nhiều chữ nước ngoài, trên túi có vết rách dài 07cm, bên trong túi có chứa các chất dạng tinh thể màu trắng (ký hiệu KX11), toàn bộ được thu giữ và bỏ vào trong một túi nilon màu trắng, miệng túi có kẹp chỉ màu đỏ, kích thước (13x8)cm; 01 vỏ túi nilon kích thước (8x6)cm, viền màu trắng, một mặt có in hình lựu đạn màu đen, vàng, một mặt có in nhiều chữ nước ngoài, trên túi có vết rách dài 6,5cm, bên trong túi có chứa các chất dạng tinh thể màu trắng (ký hiệu KX12), toàn bộ được thu giữ và bỏ vào trong một túi nilon màu trắng, miệng túi có kẹp chỉ màu đỏ, kích thước (13x8)cm.

Ngoài ra, trong quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y còn thu giữ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 Promax của Tống Duy P; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 của Đặng Văn T1; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax và 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu MAZDA BKS 35A-30423 của chị Đỗ Thị H1.

Tại Bản kết luận giám định số 134/KL-KTHS-MT ngày 15/01/2025 của Phòng K4, Công an tỉnh N kết luận mẫu chất thu giữa của vụ án:

“-Mẫu gửi giám định ký hiệu từ KT01 đến KT09; KT10A, KT11A, KT12A đều là ma túy, loại Ketamine và có khối lượng như sau: KT01: 0,5788g; KT02:0,7133g; KT03: 0,7061g; KT04: 0,6747g; KT05: 0,6289g; KT06: 0,6372g; KT07: 0,6783g; KT08: 0,6636g; KT09: 0,6435g; KT10A: 0,6839g; KT11A: 0,6625g; KT12A: 0,7189g.

Chất tinh thể bám dính trên các mẫu gửi giám định ký hiệu KT14, KX1, KX4, KX5, KX7, KX8, KX9, KX10, KX11, KX12 đều là ma túy, loại Ketamine. Lượng Ketamine bám dính đều ít, không xác định được khối lượng.

Tìm thấy chất ma túy loại Ketamine bám dính trên tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng và trên tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng gửi giám định. Lượng Ketamine bám dính đều ít, không xác định được khối lượng.

Mẫu gửi giám định gồm 03 viên nén màu xám ký hiệu KT13A có khối lượng 1,8029 gam là ma túy loại MDMA.

Chất tinh thể màu trắng bám dính trên các mẫu gửi giám định ký hiệu KX2, KX3, KX6 đều là ma túy loại MDMA. Lượng ma túy bám dính ít, không xác định được khối lượng”.

Tại Bản cáo trạng số: 28/CT- VKS ngày 14/6/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình đã truy tố:

  • Bị cáo Tống Xuân H về tội: “ Mua bán trái phép chất ma túy” Theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
  • Bị cáo Tống Duy P về tội: “ Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 250 của Bộ luật Hình sự và tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
  • Bị cáo Đặng Văn T1 về tội: “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
  • Bị cáo Đoàn Thị N về tội: “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

  • - Tuyên bố bị cáo: Tống Xuân H phạm tội: “ Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Bị cáo Tống Duy P phạm tội: “ Vận chuyển trái phép chất ma túy” và tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Bị cáo Đặng Văn T1 phạm tội: “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Bị cáo Đoàn Thị N phạm tội: “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • - Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt Tống Xuân H từ 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù đến 02 (Hai) năm 06 (S3) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 26/05/2025. Phạt bổ sung bị cáo từ 5.000.000đồng đến 10.000.000đồng sung ngân sách Nhà nước.
  • - Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 250; khoản 1, 5 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Tống Duy P từ 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù đến 02 (Hai) năm 06 (S3) tháng tù về tội: “Vận chuyển trái phép chất ma túy”; từ 02 (Hai) năm tù đến 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù, phạt bổ sung bị cáo từ 5.000.000đồng đến 10.000.000đồng sung ngân sách Nhà nước về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của 02 tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội từ 04 (Bốn) năm 03 (Ba) tháng tù đến 04 (Bốn) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 07/01/2025.
  • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đặng Văn T1 từ 07 (bảy) năm 06 (S3) tháng tù đến 08 (T5) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; từ 02 (Hai) năm 06 (sáu) tháng tù đến 03 (Ba) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của 02 tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội từ 10 (Mười) năm tù đến 11 (Mười một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 07/01/2025.
  • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đoàn Thị N từ 08 (tám) tù đến 08 (T5) năm 06 (S3) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 30/05/2025.
  • - Biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự buộc bị cáo Tống Xuân H phải nộp lại số tiền 6.500.000đồng (Sáu triệu năm trăm nghìn đồng); bị cáo Đặng Văn T1 phải nộp lại số tiền 500.000đồng (Năm trăm nghìn đồng) để sung ngân sách Nhà nước.
  • - Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1; khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • Trả lại cho chị Đỗ Thị H1 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu MAZDA BKS 35A-30423.
  • Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) tiền mệnh giá 5.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động Iphone 16 Promax thu giữ của Tống Duy P; 01 (một) Iphone 11 thu giữ của Đặng Văn T1.
  • Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ còn lại sau khi trích mẫu để giám định và toàn bộ bao gói niêm phong cùng vật chứng khác của vụ án.
  • Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu, nhất trí với luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận, bào chữa và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã ra các quyết định tố tụng; thực hiện đúng, đầy đủ các hành vi tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; các chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; người tham gia tố tụng cung cấp đều hợp pháp.
  2. [2] Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như bản cáo trạng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét công khai tại phiên tòa có đủ cơ sở xác định:

    Ngày 06/01/2025, tại tổ dân phố D, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình, Tống Xuân H có hành vi bán trái phép ma túy loại Ketamine cho Tống Duy P với giá tiền 7.000.000 đồng. Sau đó P đã sử dụng số ma túy mua của H bán cho Đặng Văn T1 lấy số tiền 7.000.000 đồng trong đó T1 mua hộ cho Đoàn Thị N 2.000.000 đồng, mua cho bản thân 5.000.000 đồng để sử dụng. Sau khi mua ma túy của P, tại phòng 302 quán karaoke Đất Việt thuộc xóm M, xã K huyện Y, tỉnh Ninh Bình. N khởi xướng việc sử dụng trái phép chất ma túy rồi rủ Vừ Thị P3, Hoàng Thị T2 cùng sử dụng. Sau đó N nói Đặng Văn T1 đưa ma túy vì N và T1 đã thống nhất từ trước. Tại đây, T1 đưa cho N túi ma túy loại Ketamine và ống hút được cuộn bằng tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng rồi N đưa ma túy cùng tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng để P3 "xào". Sau khi "xào" xong, P3 đưa cho T1, N, T2 và bản thân sử dụng, sau đó khi Nguyễn Văn M2, Vũ Xuân K, Nguyễn Ngọc T3 vào phòng 302 thì cùng sử dụng số ma túy trên. Do tiếp tục có nhu cầu sử dụng ma túy nên T1 đã nhờ Tống Duy P lấy túi ma túy bên trong có 03 viên ma túy MDMA có khối lượng 1,8029 gam và 08 túi ma túy ketamine có tổng khối lượng 7,4108 gam T1 đã cất giấu ở hố đất gần quán K2 có địa chỉ tại tổ dân phố P, thị trấn Y, huyện Y mang đến phòng 302 quán Karaoke Đất Việt cho T1. Trong quá trình cả nhóm sử dụng ma túy trong phòng 302, số ma túy của T1 gồm 03 viên ma túy loại MDMA có khối lượng 0,18029 gam và 11 túi ma túy Ketamine có tổng khối lượng 7,4108 gam chưa sử dụng hết thì bị phát hiện, thu giữ.

    Điều 249: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

    1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

    • c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
    • g) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 01 gam đến dưới 20 gam;
    • i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.

    5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

    Điều 250: Tội vận chuyển trái phép chất ma túy.

    1. Người nào vận chuyển trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích sản xuất, mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

    • c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
    • g) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 01 gam đến dưới 20 gam;
    • i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.

    5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

    Điều 251: Tội mua bán trái phép chất ma tuý

    1. Người nào mua bán trái phép chất ma tuý thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm;

    5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

    Điều 255: Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

    1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm;

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

    • b) Đối với 02 người trở lên;

    5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

    Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Tống Xuân H phạm tội “Mua bán trái phép ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Tống Duy P phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự và tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Đặng Văn T1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Đoàn Thị N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

  3. [3] Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các bị cáo thành khẩn khai báo nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Tống Xuân H, Tống Duy P và Đặng Văn T1, sau khi phạm tội đã đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  4. [4] Hình phạt: Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo xét thấy: Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị áp dụng tội danh, loại, mức hình phạt đối với từ bị cáo là phù hợp, cần xử phạt các bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra. Xét bị cáo Tống Xuân H nhân thân xấu, phạm tội nghiêm trọng; bị cáo Đoàn Thị N phạm tội rất nghiêm trọng; các bị cáo Tống Duy P, Đặng Văn T1 phạm 02 tội nên cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện răn đe, giáo dục các bị cáo. Bị cáo Tố Duy P4, Đặng Văn T1 phạm hai tội nên khi quyết định hình phạt cần tổng hợp để buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội. Bị cáo Tống Xuân H, Tống Duy P phạm tội có tính chất tư lợi nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo về tội mua bán chất ma túy. Các bị cáo còn lại phạm tội không có tính chất tư lợi, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
  5. [5] Biện pháp tư pháp buộc bị cáo: Tống Xuân H phải nộp lại số tiền 6.500.000đồng (Sáu triệu năm trăm nghìn đồng và bị cáo Đặng Văn T1 phải nộp lại số tiền 500.000đồng (Năm trăm nghìn đồng) do phạm tội mà có để sung ngân sách Nhà nước.
  6. [6] Về xử lý vật chứng:

    Đối với 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu MAZDA BKS 35A-30423 là tài sản hợp pháp của chị Đỗ Thị H1, việc Tống Duy P sử dụng để chở ma túy, chị H1 không biết và chiếc xe trên không liên quan đến hành vi bán trái phép chất ma túy của Tống Xuân H nên trả lại cho chị Đỗ Thị H1.

    Đối với 01 (một) tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động Iphone 16 Promax thu giữ của Tống Duy P; 01 (một) Iphone 11 thu giữ của Đặng Văn T1 là công cụ các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

    Đối với số ma túy thu giữ còn lại sau khi trích mẫu để giám định là chất Nhà nước cấm lưu hành và toàn bộ bao gói niêm phong cùng vật chứng khác của vụ án không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

  7. [7] Trong vụ án có chị Hoàng Thị T2, các anh Nguyễn Văn M2, Vũ Xuân K và Nguyễn Ngọc T3 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng 302 quán Karaoke Đất Việt ngày 06/01/2025, đây là hành vi vi phạm hành chính, cơ quan Công an tỉnh N đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với chị T2, các anh M2, K và T3 là có căn cứ.
  8. Đối với Đoàn Thị N, ngày 06/01/2025, N nhờ T1 mua ma túy ketamine với số tiền 2.000.000 đồng (tính theo giá T1 đã mua của P thì số ma túy của N mua tương đương với 04 túi ma túy nhỏ), tuy nhiên T1 đã tự mang túi ma túy bên trong có 06 túi ma túy nhỏ cho N mà không nói cho N biết. Khi mang ma túy đến cho N thì N đổi ý không lấy nữa nên T1 chưa giao số ma túy này cho N. Tại phòng 302 các đối tượng đã sử dụng 03 túi ma túy do T1 mang đến nên không xác định được số ma túy đã sử dụng đâu là ma túy của N nhờ T1 mua. Do vậy không có cơ sở truy cứu trách nhiệm hình sự đối với N về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đối với 03 túi ma túy Ketamine còn lại có khối lượng là 2,0896 gam.

    Đối với anh Nguyễn Văn S2 là chủ cơ sở kinh doanh Karaoke Đất Việt, ngày 06/01/2025 anh S2 cho Đặng Văn T1 thuê phòng hát 302, anh S2 đã thiếu trách nhiệm trong quản lý hoạt động kinh doanh của quán karaoke để Đặng Văn T1 cùng các đối tượng khác tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng. Theo quy định pháp luật mặc dù anh S2 không biết việc T1 cùng các đồng phạm sử dụng ma túy tại phòng tuy nhiên anh S2 là người trực tiếp quản lý hoạt động kinh doanh của quán karaoke phải chịu trách nhiệm khi để xảy ra hoạt động sử dụng trái phép chất ma túy trong khu vực mình quản lý. Hành vi nêu trên của Nguyễn Văn S2 là hành vi vi phạm hành chính, cơ quan CSĐT Công an tỉnh N sẽ chuyển hồ, sơ, tài liệu đến cơ quan có thẩm quyền để xử lý theo quy định.

    Về nguồn gốc ma túy Ketamine Tống Xuân H bán cho Tống Duy P sau đó P bán cho Đặng Văn T1, quá trình điều tra H khai mua của người đàn ông không quen biết tại thành phố N, bản thân H không biết tên tuổi, địa chỉ của những người bán ma túy cho mình nên Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N không có cơ sở để điều tra xử lý.

    Về nguồn gốc ma túy MDMA Đặng Văn T1 tàng trữ, T1 khai mua của người không quen biết tại khu vực bến xe M, thành phố Hà Nội, bản thân T1 không biết tên tuổi, địa chỉ của những người bán ma túy cho mình nên Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N không có cơ sở để điều tra xử lý.

    Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

  1. 1. Tuyên bố bị cáo: Tống Xuân H phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo Tống Duy P phạm tội: “Vận chuyển trái phép chất ma túy” và tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo Đặng Văn T1 phạm tội: “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo Đoàn Thị N phạm tội: “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  2. 2. Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; của Bộ luật Hình sự xử phạt Tống Xuân H 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 26/05/2025. Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000đồng (Mười triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.
  3. 3. Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 250; khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Tống Duy P 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù về tội: “Vận chuyển trái phép chất ma túy”; 02 (Hai) năm tù, phạt bổ sung bị cáo 10.000.000đồng (Mười triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của 02 tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 04 (Bốn) năm 03 (Ba) tháng tù, phạt bổ sung bị cáo 10.000.000đồng (Mười triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 07/01/2025.
  4. 4. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đặng Văn T1 07 (bảy) năm, 06 (S3) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; 02 (Hai) năm 06 (S3) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của 02 tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 10 (M4) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 07/01/2025.
  5. 5. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đoàn Thị N 08 (T5) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 30/05/2025.
  6. 6. Biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự buộc bị cáo Tống Xuân H phải nộp lại số tiền 6.500.000đồng (Sáu triệu năm trăm nghìn đồng); bị cáo Đặng Văn T1 phải nộp lại số tiền 500.000đồng (Năm trăm nghìn đồng) để sung ngân sách Nhà nước.
  7. 7. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1; khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • 7.1. Trả lại cho chị Đỗ Thị H1 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu MAZDA BKS 35A-30423.
    • 7.2. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) tiền mệnh giá 5.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động Iphone 16 Promax thu giữ của Tống Duy P; 01 (một) Iphone 11 thu giữ của Đặng Văn T1.
    • 7.3. Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ còn lại sau khi trích mẫu để giám định và toàn bộ bao gói niêm phong cùng vật chứng khác của vụ án gồm:
      • 01 hộp bìa cát tông được niêm phong theo quy định, trên hộp bìa ghi "Đồ vật thu giữ trên mặt bàn trong phòng hát 302 quán karaoke Đất Việt ngày 06/01/2025", 01 chiếc đĩa sứ màu trắng, 01 chiếc bật lửa ga vỏ nhựa màu đỏ và 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long (bên trong hộp bìa cát tông).
      • 01 phong bì niêm phong, trên phong bì có ghi "Vỏ bao gói niêm phong vật chứng thu giữ tại phòng 302 quán hát karaoke Đất Việt tại địa chỉ tại xóm M, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình ngày 06/01/2025"
      • 01 phong bì niêm phong theo quy định, trên phong bì ghi "Điện thoại nhãn hiệu Iphone 16 Promax thu giữ của Tống Duy P ngày 07/01/2025", sim số thuê bao 0326799567 và 0898741380;
      • 01 phong bì niêm phong theo quy định, trên phong bì ghi "Điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 thu giữ của Đặng Văn T1 ngày 07/01/2025", sim điện thoại số thuê bao 0385.458.xxx;
      • 01 túi niêm phong mã số PS2A 075467, trên túi niêm phong có ghi MẪU VẬT HOÀN TRẢ SAU GIÁM ĐỊNH, số 134/KL-KTHS-MT, vụ Tống Xuân H, sn 1999 xảy ra ngày 07/01/2025 tại Y, Ninh Bình; vỏ bao gói của mẫu ký hiệu KX1 và từ KX8 đến KX12;
      • 01 phong bì niêm phong theo quy định số 134/KL-KTHS-MT trên phong bì ghi "MẪU VẬT HOÀN TRẢ SAU GIÁM ĐỊNH, vật chứng thu giữ tại quán karaoke Đất Việt, K, Y, Ninh Bình; mẫu vật hoàn trả gồm mẫu KT14; vỏ bao gói niêm phong";
      • 01 phong bì niêm phong theo quy định số 134/KL-KTHS-MT trên phong bì ghi "MẪU VẬT HOÀN TRẢ SAU GIÁM ĐỊNH, vật chứng thu giữ tại quán karaoke Đất Việt, K, Y, Ninh Bình; mẫu vật hoàn trả gồm: như trong biên bản cân xác định khối lượng, niêm phong và hoàn trả đối tượng sau giám định;
      • 01 phong bì niêm phong theo quy định số 134/KL-KTHS-MT trên phong bì ghi "MẪU VẬT HOÀN TRẢ SAU GIÁM ĐỊNH, vụ Tống Xuân H, sn 1999 xảy ra ngày 07/01/2025 tại Y; mẫu vật hoàn trả gồm: vỏ bao gói của mẫu ký hiệu KX2, KX3, KX4, KX5, KX6, KX7;
      • 01 phong bì niêm phong theo quy định số 134/KL-KTHS-MT trên phong bì ghi "MẪU VẬT HOÀN TRẢ SAU GIÁM ĐỊNH, vật chứng thu giữ tại quán karaoke Đất Việt, K, Y, Ninh Bình; mẫu vật hoàn trả gồm: 01 tờ tiền 5.000 đồng, 01 tờ tiền 20.000 đồng, vỏ bao gói niêm phong;
      • 09 phong bì niêm phong que thử ma túy đối với Tống Duy P, Đặng Văn T1, Vừ Thị P3, Hoàng Thị T2, Vũ Xuân K, Bùi Thị Vân A, Nguyễn Trung H3, Nguyễn Văn M2 và Hồ Thị Tố U.

      (Cụ thể chi tiết vật chứng, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/06/2025 giữa Công an tỉnh N và Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Mô).

  8. 4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; áp dụng Điều 6; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án buộc các bị cáo Tống Xuân H, Tống Duy P, Đặng Văn T1, Đoàn Thị N mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đồng.
  9. Án xử sở thẩm công khai, các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

    “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án”.

Nơi nhận:

  • - Toà án ND, VKSND tỉnh Ninh Bình.
  • - VKSND- Huyện YM.
  • - Bị cáo, Người TGTT (BH,NCQLNVLQ),
  • - THA- CA. Huyện YM.
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà

(Đã ký)

Nguyễn Anh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2025/HS - ST ngày 27/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ - TỈNH NINH BÌNH về hình sự về tội phạm ma túy

  • Số bản án: 26/2025/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội phạm ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ - TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tống Xuân H và đồng phạm phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy, tổ chức sử dụng chất ma túy, mua bán chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger