Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THỌ XUÂN

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 26/2025/HS-ST

Ngày 02 - 4 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng

Các Hội thẩm nhân dân : Ông Lê Đăng Thiện

Ông Nguyễn Văn Sâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân tham gia phiên tòa:

Ông Đỗ Tiến Dũng - Kiểm sát viên

Ngày 02 tháng 4 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thọ xuân, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2025/TLST - HS ngày 04 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2025/QĐXXST - HS ngày 20/3/2025 đối với các Bị cáo:

1. Nguyễn Xuân Q, sinh ngày 27 tháng 9 năm 1994 tại thị trấn S, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Căn cước công dân số: [...], cấp ngày 21/02/2024, nơi cấp: Cục cảnh sát QLHC về TTXH; Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Khu phố D thị trấn S, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ Văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố: Chưa xác định; Mẹ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1952; Bị cáo là con duy nhất; Vợ: Bùi Thị H (đã ly hôn); Có 01 con sinh năm 2018; Tiền án; Tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 18/10/2024 đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Mai Hùng S, sinh ngày 03 tháng 3 năm 2001 tại thị trấn S, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Căn cước công dân số: [...], nơi cấp: Cục cảnh sát QLHC về TTXH; Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn K trấn S, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ Văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố: Mai Văn N1, sinh năm 1974; Mẹ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1982: Gia đình có 02 anh em, Bị cáo là con thứ 1; Chưa có vợ con; Tiền án; Tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/10/2024 đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3. Lâm Thành C, sinh ngày 24 tháng 9 năm 1989 tại thị trấn S, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Căn cước công dân số: [...], cấp ngày 30/6/2022, nơi cấp: Cục cảnh sát QLHC về TTXH; Nơi thường trú: Khu phố B thị trấn S, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Chỗ ở hiện nay: Khu phố L, thị trấn L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ Văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố: Lâm Thành V, sinh năm 1964; Mẹ: Trần Thị L, sinh năm 1966; Gia đình có 02 anh em, Bị cáo là con thứ 1; Vợ: Vũ Thị H1, sinh năm 1989; Có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2017; Tiền án; Tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/10/2024 đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

1. Anh Bùi Văn P, sinh năm 1990. Vắng mặt

Địa chỉ: Thôn Điền Trạch xã Thọ Lâm, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá

2. Anh Trịnh Trung T1, sinh năm 1996. Vắng mặt

Địa chỉ: Khu phố A thị trấn S, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 07/10/2024, Mai Hùng S, sinh năm 2001 và Nguyễn Xuân Q, sinh năm 1994, cùng trú tại thị trấn S, huyện T gặp nhau và cùng uống bia tại quán “Cây Xà Cừ” ở khu phố C, thị trấn S, huyện T. Trong lúc uống bia, Q hỏi S xem có chỗ nào lấy “đồ” (tức mua ma túy đá) về để sử dụng thì S đồng ý. Khi về nhà, S tìm kiếm trên mạng xã hội và kết bạn với tài khoản Zalo tên “Khanh” (đăng ký bằng số điện thoại 0779.461.xxx) để hỏi mua ma túy đá thì K1 đồng ý và báo giá một hộp ma túy với số tiền 2.700.000đ. Sau đó, S dùng số điện thoại 0777.552.xxx (đăng ký Zalo tên “Sơn Dung”) gọi đến số 0876351111 của Q nói có chỗ bán ma túy với giá 2.700.000đ/01 hộp và bảo Quảng chuyển số tiền 3.500.000đ cho S (bao gồm 2.700.000đ tiền mua ma túy và 800.000đ tiền công).

Ngày 10/10/2024, Q dùng tài khoản ngân hàng MB số 13636883636 của mình chuyển 3.500.000đ đến tài khoản ngân hàng MB số 3636345888888 của S. Nhận được tiền, ngày 11/10/2024, S dùng tài khoản ngân hàng MB của mình chuyển số tiền 2.700.000đ đến tài khoản ngân hàng M số 0779461777 mang tên “VO TUAN KHANH” của K1 để mua ma túy. S nói với K1 giấu ma túy trong hộp đựng hàng, ghi tên người nhận và số điện thoại của Q rồi gửi xe khách Thọ Mười về cho Quảng nhận. Khanh chụp ảnh hộp hàng trước khi gửi cho S và S gửi ảnh cho Q để Q đón xe nhận ma túy.

Đến tối ngày 12/10/2024, Quảng chờ xe khách Thọ Mười và lấy được hộp ma túy tại đường Q gần trường T5 ở huyện T. Q đem hộp ma túy về nhà, mở ra bên trong có một con khỉ màu cam bằng đất nung; Q đập vỡ lấy được túi ma túy đá chia thành các gói nhỏ và báo S đã lấy được hàng. Đến tối cùng ngày, Q đem ma túy ra hồ câu cá Tiến N2 ở thị trấn S, huyện T để sử dụng thì gặp Lâm Thành C, sinh năm 1989, trú tại thị trấn S, huyện T. Tại đây, Q nói với C nếu ai có nhu cầu mua ma túy thì giới thiệu cho Q. C đồng ý nhưng chưa giới thiệu được ai. Sau đó C đi về nhà trước còn Q ở lại sử dụng ma túy. Đến khoảng 20h cùng ngày, C gọi cho Q (sử dụng số điện thoại 0348.720.xxx, đăng ký tên Z tên “Thành Chung”) hỏi mua 300.000₫ ma túy nhưng nợ lại tiền thì Q đồng ý. Q đem ma túy giấu trong trụ cổng nhà văn hóa khu phố D1, thị trấn S, huyện T và chỉ vị trí cho C. Sau đó, C đến lấy ma túy và đã sử dụng hết.

Ngày 13/10/2024, Q nhắn tin với S hỏi có ai cần mua ma túy thì giới thiệu cho Q thì S nói có Trịnh Trung T1, sinh năm 1996, trú tại khu phố A, thị trấn S, huyện T có nhu cầu sử dụng. Sau đó, S liên hệ với T1 (số điện thoại 0988.814.xxx, đăng ký Zalo tên Thanh T2) và Bùi Văn P, sinh năm 1990, trú tại thôn Đ, xã T, huyện T (số điện thoại 0348.325.xxx, đăng ký Zalo tên “Làng Đ”) giới thiệu có Quảng bán ma túy và nhắn số điện thoại của Q cho T1 và P tự liên hệ.

Cùng ngày, T1 gọi cho Q hỏi mua ma túy thì Q gọi cho S xác nhận việc S giới thiệu nên đồng ý và hẹn T1 đến nhà lấy. Khi T1 đến nhà, Q yêu cầu T1 chuyển khoản số tiền 500.000đ vào tài khoản ngân hàng A số 10010501 của Q. Nhận được tiền, Q đưa cho T1 một gói ma túy và T1 đã đem về sử dụng hết.

Đến ngày 14/10/2024, P mới gọi cho S hỏi mua ma túy thì S nói gọi cho Q. P sử dụng ứng dụng T3 gọi cho Q hỏi mua 500.000₫ ma túy thì Q bảo chờ. Sau đó, Q gọi cho S xác nhận việc S giới thiệu. Q gọi cho C nói về việc P hỏi mua ma túy nhưng không muốn cho P biết bản thân là người bán ma túy nên nhờ C đứng ra giả làm người bán. C đồng ý thì Q nói sẽ nhắn tin cho C về việc Q hỏi C có bán ma túy cho P không và C sẽ đồng ý để Q chụp tin nhắn gửi cho P. Khi C làm theo và nhắn tin với Q thì Q chụp tin nhắn gửi cho P nói là C đồng ý bán và bảo P chuyển khoản số tiền 500.000đ vào tài khoản ngân hàng A số 10010501 của Q. Nhận được tiền, Q bỏ túi nilon chứa ma túy vào vỏ bao thuốc lá Thăng L1 và giấu ở cổng chào vào nhà Q ở khu phố D, thị trấn S rồi gọi chỉ vị trí cho P. P đến nơi lấy được ma túy và đã đem về sử dụng dần.

Đến tối ngày 14/10/2024, Q tiếp tục nhờ S mua hộ ma túy và chuyển khoản cho S số tiền 3.700.000đồng. S liên hệ với K1 hỏi mua ma túy và chuyển khoản cho K1 số tiền 2.500.000đồng. Sau đó, Q nói không muốn mua nữa và bảo S chuyển trả lại tiền nhưng S nói đã chuyển khoản cho K1 nên không lấy lại được.

Sáng ngày 15/10/2024, C gọi cho Q hỏi mua 500.000đ ma túy nhưng vẫn nợ tiền. Q đồng ý và bảo C qua nhà Q lấy ma túy. Q đưa tất cả số ma túy còn lại bỏ trong túi Z1 viền xanh cho C và C mang túi ma túy về đơn vị cũ là Trung đoàn 923. Sau khi bán ma túy cho C thì T1 gọi cho Q hỏi mua tiếp 500.000₫ ma túy. Q nói đã bán hết ma túy cho C nhưng nghĩ đến túi ma túy vừa bán nợ cho C. Q nói Thanh chờ để liên hệ với C. Q gọi cho C nói về việc sẽ lấy lại gói ma túy đó để bán cho một người em tên “T2” và cuối tuần sẽ bù cho C số ma túy khác. C đồng ý và lấy túi ma túy vừa mua được bọc bên ngoài bằng giấy ăn rồi đem ra để ở vị trí trụ cổng số 2 nơi không có vọng gác của Trung đoàn 923 hướng thôn Đ, xã T. Sau đó, C gọi Zalo để chỉ vị trí cho Q biết và đi về đơn vị cũ. Q gọi cho T1 bảo chuyển số tiền 500.000đ vào tài khoản ngân hàng A của Q như lần trước. Sau khi nhận được tiền, Q gửi số điện thoại của T1 cho C để C chỉ vị trí cho T1. C nhận được tin nhắn số điện thoại Quảng gửi thì trên Zalo hiện tên “Thanh Trung” mới biết là Quảng bán ma túy cho T1. Do trước đó có mâu thuẫn với T1 nên C nói với Q không muốn chỉ vị trí giấu ma túy cho T1. Q dùng Zalo tên “Nguyễn Xuân K”, đăng ký bằng số điện thoại 0944.710.xxx nhắn tin chỉ vị trí cho T1. T1 đến nơi lấy được ma túy và sử dụng hết, còn lại vỏ đựng ma túy bỏ trong người.

Ngày 15/10/2024, Công an huyện T phối hợp với Công an thị trấn S, huyện T tiến hành tuần tra kiểm soát đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn thị trấn, đồng thời kiểm tra xét nghiệm chất ma tuý của các đối tượng trên địa bàn phát thì phát hiện:

Khoảng 14h 00' ngày 15/10/2024 phát hiện Bùi Văn P đang đi bộ trên đoạn đường quốc lộ 47 qua khu phố A, thị trấn S, huyện T có biểu hiện nghi vấn. Qua kiểm tra thu giữ trong người P một túi nilon màu trắng loại túi Zíp viền xanh bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, P khai nhận đó là ma tuý dạng đá mua của Q vào chiều ngày 14/10/2024. Kiểm tra điện thoại nhãn hiệu Oppo A15 của P có các tin nhắn trao đổi mua bán ma túy với S và Q.

Khoảng 15h 30' ngày 15/10/2024, phát hiện Trịnh Trung T1 đang đi bộ trên đường đoạn qua khu phố C, thị trấn S, huyện T có biểu hiện nghi vấn, qua kiểm tra thu giữ trong túi quần của T1 một túi nilon màu trắng loại túi Zíp viền xanh có bám dính chất tinh thể màu trắng. T1 khai nhận đó là ma túy đá vừa mua được của Q và đã sử dụng hết. Kiểm tra điện thoại nhãn hiệu Vivo của P có các tin nhắn trao đổi mua bán ma túy với S và Q.

Cơ quan điều tra đã lập biên bản niêm phong ma túy thu giữ của P và T1. Tiến hành kiểm tra chất ma tuý trong cơ thể phát hiện P và T1 dương tính với ma tuý loại Methamphetamin.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Mai Hùng S phát hiện thu giữ số tiền 350.000đ; Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lâm Thành C không phát hiện thu giữ đồ vật tài liệu gì; Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Xuân Q phát hiện thu giữ 02 thẻ nhớ 32GB, các mảnh vỡ của con khỉ đất màu hồng cam, 01 hộp giấy bằng bìa cattong, dán băng dính màu hồng có chữ “hàng dễ vỡ”.

Ngày 16/10/2024, Lâm Thành C và Mai Hùng S đã đến Công an huyện T đầu thú khai nhận hành vi cùng với Nguyễn Xuân Q bán chất ma tuý cho Trịnh Trung T1 và Bùi Văn P. S giao nộp một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max màu vàng, lắp thẻ sim số thuê bao 0777.552.626; một điện thoại Iphone 14 pro max màu tím, lắp thẻ sim số thuê bao 0815535229. C giao nộp một điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A02S màu đen, lắp thẻ sim số thuê bao 0976383127 và 0348.730.265.

Xác minh lý lịch của của Lâm Thành C và Mai Hùng S xác định cả hai trước đó đều công tác tại Trung đoàn I, Sư đoàn C3, Q - Không quân. Trong đó: C có thời gian phục vụ trong quân đội từ tháng 04/2010 đến ngày 13/10/2024; S có thời gian phục vụ trong quân đội từ tháng 10/2020 đến ngày 13/10/2024. Ngày 11/10/2024 cả S và C đều có Quyết định về việc quân nhân chuyên nghiệp phục viên.

Trong quá trình điều tra vụ án, Mai Hùng S khai báo nguồn gốc số ma túy mua hộ cho Nguyễn Xuân Q vào ngày 10/10/2024 là của một người đàn ông có tài khoản Zalo tên là Võ Tuấn K1, nhưng bản thân S không quen biết, cũng không có mối quan hệ gì với người này. Sau khi thống nhất việc mua ma túy thì Mai Hùng S sử dụng tài khoản ngân hàng M chuyển tiền vào tài khoản MB số 0779461777 đứng tên “VO TUAN KHANH” số tiền 2.700.000đ. Quá trình điều tra xác định chủ tài khoản ngân hàng M là Võ Tuấn K1, sinh năm 1993, trú tại tổ E N, phường N, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Tiến hành làm việc, Võ Tuấn K1 khai báo là chủ sở hữu tài khoản MB số 0779461777. Tuy nhiên, K1 không quen biết, không có mối quan hệ gì với Mai Hùng S. Bản thân K1 làm nghề tự do, kinh doanh dịch vụ chuyển tiền qua tài khoản cho khách du lịch nên không xác định được nguồn gốc giao dịch với tài khoản ngân hàng của Mai Hùng S. Căn cứ kết quả điều tra và tài liệu chứng cứ thu thập được không có căn cứ xác định Võ Tuấn K1 là người bán ma túy đá cho Mai Hùng S vào ngày 10/10/2024 nên không có cơ sở xử lý đối với Võ Tuấn K1.

Sau khi phạm tội, Q đã đi khỏi địa phương, đến ngày 18 tháng 10 năm 2024, Cơ quan điều tra bắt giữ Nguyễn Xuân Q tại khu phố T, Phường Đ, thị xã D, tỉnh Bình Dương. Thu giữ trên người Quảng 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5S màu đen, gắn thẻ sim số thuê bao 0942308274 và 0856436567; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 130 màu đen, gắn thẻ sim số thuê bao 0876351111.

Ngày 17/10/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T ra Quyết định trưng cầu giám định ma tuý đã thu giữ của P và T1. Ngày 22/10/2024, Phòng K2 Công an tỉnh T có kết luận giám định số: 3965/KL-KTHS kết luận:

  • Các hạt tinh thể màu trắng của phong bì ký hiệu “thu của P” là ma tuý loại Methamphetamin có tổng khối lượng 0,025g (không phẩy không hai lăm gam).
  • Các hạt tinh thể màu trắng của phong bì ký hiệu “thu của T1” là ma tuý loại Methamphetamin không xác định được khối lượng.

Ngày 06/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T ra Quyết định trưng cầu giám định đối với số tiền 350.000đồng thu giữ của Mai Hùng S. Ngày 14/11/2024, Phòng K2 - Công an tỉnh T có kết luận giám định số: 4353/KL-KTHS kết luận số tiền thu giữ đều là tiền thật.

Ngày 06/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T ra Quyết định trưng cầu giám định kỹ thuật số điện tử đối với 06 file video được trích xuất từ camera an ninh nhà Nguyễn Xuân Q. Ngày 25/11/2024, Phòng K2 - Công an tỉnh T có kết luận giám định số 4494/KL-KTHS, kết luận: Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 06 (sáu) tệp video của 01 (một) đĩa DVD-R gửi giám định.

Ngày 17/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T ra Quyết định trưng cầu giám định Sinh học đối với túi Zip viền xanh, bên trong có bám dính các hạt tinh thể màu trắng, được niêm phong trong phong bì màu trắng (thu giữ của Trịnh Trung T1). Ngày 08/11/2024, Phòng K2 - Công an tỉnh T có kết luận giám định số 4252/KL-KTHS, kết luận:

  • 01 (một) túi nilon gửi giám định có tế bào của Lâm Thành C.
  • Lưu kiểu gen (theo hệ Globalfile) của Lâm Thành C tại Phòng K2 Công an tỉnh T.

Đối với Bùi Văn P và Trịnh Trung T1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Bùi Văn P còn có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy vào ngày 15/10/2024, tuy nhiên khối lượng ma túy thu giữ là 0,025g không cấu thành tội phạm.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14Pro Max, màu tím, gắn thẻ sim số thuê bao 0815.535.229 là của chị Bùi Thị Vân D, sinh năm 2005, trú tại thôn B, xã X, huyện T và giữ 02 thẻ nhớ 32GB là của gia đình bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1952, trú tại khu phố D, thị trấn S, huyện T. Xác định các đồ vật trên không có liên quan đến vụ án nên CQĐT đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp.

Vật chứng của vụ án là: 01 phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K2 Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh T4, Lương Xuân N3 và hình dấu của Phòng K2 Công an tỉnh T. Bên trong là phong bì mặt trước ghì “thu của T1”; Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của phong bì mặt trước ghi “thu của P” và 0,016g các hạt tinh thể màu trắng. 01 (một) phong bì niêm phong có các chữ ký, chữ viết của Trần Thị Thúy H2, Lê Hữu H3 và các hình dấu của Phòng K2 Công an tỉnh T bên trong chứa 01 (một) túi nilon màu trắng, dạng túi zip, viền xanh. 01 phong bì có chữ KLGĐ số 4494/KL-KTHS ngày 25/11/2024, được dán kín niêm phòng bởi các chữ ký đứng tên Trần Thị H4, Lê Hữu H3 và các hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: “Phòng K2 - Công an tỉnh T”. Bên trong là 01 đĩa DVD-R màu vàng. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 130, màu đen, đã qua sử dụng, có IMEI 1: 357699101223343; IMEI 2: 357699101723342, gắn thẻ sim số thuê bao 0876.351.111. 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5s, màu đen, đã qua sử dụng, có IMEI 1: 865222043143696, IMEI 2: 865222943143688, gắn sim 1 số 0856.436.567, sim 2 số: 0942.308.274. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A02s, màu đen, đã qua sử dụng, có IMEI 1: 352845141808230, IMEI 2: 353051561808235, gắn thẻ sim 1 số: 0976.383.127, sim 2 số: 0348.730.265. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12Pro Max, màu vàng, đã qua sử dụng, IMEI: 354703753335638, IMEI 2: 354703753396697, gắn thẻ sim số thuê bao: 0777.552.626. Các mảnh vỡ của con khỉ đất màu hồng cam. 01 hộp giấy bằng bìa cattong, dán băng dính màu hồng in chữ “hàng dễ vỡ”. Số tiền 350.000đồng (Ba trăm năm mươi nghìn đồng). Hiện đang quản lý và nhập kho vật chứng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thọ Xuân.

Cáo trạng số 28/CT- VKSTX ngày 28/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân đã truy tố các Bị cáo: Nguyễn Xuân Q, Mai Hùng S và Lâm Thành C về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa các Bị cáo đều khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố .

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các Bị cáo: Nguyễn Xuân Q, Mai Hùng S và Lâm Thành C phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”

Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; Điểm s khoản 1, 2 điều 51; Điều 17; Khoả 1 điều 38 Bộ luật hình sự đối với các Bị cáo: Nguyễn Xuân Q, Mai Hùng S và Lâm Thành C; Áp dụng thêm điểm v khoản 1 điều 51 và điều 54 Bộ luật Hình sự đối với Bị cáo Lâm Thành C;

Đề nghị HĐXX xử phạt Bị cáo Nguyễn Xuân Q từ 08(tám) năm đến 08(tám) năm 03(ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 18/10/2024.

Đề nghị HĐXX xử phạt Bị cáo Mai Hùng S từ 07(bảy) năm đến 07(bảy) năm 03(ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 16/10/2024.

Đề nghị HĐXX xử phạt Bị cáo Lâm Thành C từ 05(năm) năm 06(sáu) tháng đến 05(năm) năm 09(chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 16/10/2024.

Đề nghị không phạt bổ sung đối với các Bị cáo.

Đề nghị HĐXX áp dụng diểm a, b, c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, b, c khoản 2 điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy gồm: 01 phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K2 Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh T4, Lương Xuân N3 và hình dấu của Phòng K2 Công an tỉnh T. Bên trong là phong bì mặt trước ghì “thu của T1”; Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của phong bì mặt trước ghi “thu của P” và 0,016g các hạt tinh thể màu trắng. 01 (một) phong bì niêm phong có các chữ ký, chữ viết của Trần Thị Thúy H2, Lê Hữu H3 và các hình dấu của Phòng K2 Công an tỉnh T bên trong chứa 01 (một) túi nilon màu trắng, dạng túi zip, viền xanh. 01 phong bì có chữ KLGĐ số 4494/KL-KTHS ngày 25/11/2024, được dán kín niêm phòng bởi các chữ ký đứng tên Trần Thị H4, Lê Hữu H3 và các hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: “Phòng K2 - Công an tỉnh T”. Bên trong là 01 đĩa DVD-R màu vàng; Các mảnh vỡ của con khỉ đất màu hồng cam. 01 (một) hộp giấy bằng bìa cattong, dán băng dính màu hồng in chữ “hàng dễ vỡ”.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước gồm: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 130, màu đen, đã qua sử dụng, có IMEI 1: 357699101223343; IMEI 2: 357699101723342, gắn thẻ sim số thuê bao 0876.351.111; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5s, màu đen, đã qua sử dụng, có IMEI 1: 865222043143696, IMEI 2: 865222943143688, gắn sim 1 số 0856.436.567, sim 2 số: 0942.308.274; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A02s, màu đen, đã qua sử dụng, có IMEI 1: 352845141808230, IMEI 2: 353051561808235, gắn thẻ sim 1 số: 0976.383.127, sim 2 số: 0348.730.265; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12Pro Max, màu vàng, đã qua sử dụng, IMEI: 354703753335638, IMEI 2: 354703753396697, gắn thẻ sim số thuê bao: 0777.552.626; Số tiền 350.000đồng (Ba trăm năm mươi nghìn đồng).

Truy thu sung quỹ Nhà nước số tiền 1.500.000đ đối với Bị cáo Q; Số tiền 1.450.000đ đối với Bị cáo S; Buộc các Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Các Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, các Bị cáo đề nghị HĐXX cho các Bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa các Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các Bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai nhận tội của các Bị cáo tại cơ quan điều tra. Đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản đầu thú; Kết luận giám định; Lời khai của những người làm chứng đều phản ánh thống nhất khách quan:

  • Bị cáo Nguyễn Xuân Q đã có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Lâm Thành C vào ngày 12/10/2024 và ngày 15/10/2024 (C chưa thanh toán tiền); Bán ma tuý cho Trịnh Trung T1 vào ngày 13/10/2024 với số tiền 500.000đ và ngày 15/10/2024 với số tiền 500.000đ; Bán ma tuý cho Bùi Văn P vào ngày 14/10/2024 với số tiền 500.000đ, số ma tuý còn lại thu giữ của P có khối lượng 0,025g ma tuý, loại Methamphetamine. Bị cáo Nguyễn Xuân Q đã bán trái phép chất ma tuý 05 lần với tổng số tiền 1.500.000đ. Do đó hành vi của Bị cáo Nguyễn Xuân Q đủ yếu tố cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo Q phải chịu trách nhiệm về hành vi mua bán trái phép chất ma tuý quy định tại điểm b khoản 2 điều 251 Bộ luật Hình sự.
  • Bị cáo Mai Hùng S có hành vi mua hộ ma tuý cho Bị cáo Q hai lần để bán trái phép vào ngày 10/10/2024 và ngày 14/10/2024. Bị cáo S đã được trả công 1.800.000đ. Ngoài ra Bị cáo S còn giới thiệu cho T1 và P mua ma tuý của Bị cáo Q vào ngày 13 và 14/10/2024. Hành vi của Bị cáo Mai Hùng S đã đồng phạm với Bị cáo Q trong việc bán ma tuý cho T1 và P, đủ yếu tố cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm b khoản 2 điều 251 Bộ luật Hình sự.
  • Bị cáo Lâm Thành C đã có hành vi nhắn tin giả làm người bán ma tuý với Bị cáo Q vào ngày 14/10/2024 để Bị cáo Quảng bán được ma tuý cho Bùi Văn P. Ngoài ra ngày 15/10/2024 Bị cáo C1 còn dùng số ma tuý mình đang có để giúp cho Bị cáo Quảng bán ma tuý cho Trịnh Trung T1. Hành vi của Bị cáo Lâm Thành C đã đồng phạm với Bị cáo Q trong việc bán ma tuý cho T1 và P, đủ yếu tố cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”quy định tại điểm b khoản 2 điều 251 Bộ luật Hình sự.

Vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Các Bị cáo: Nguyễn Xuân Q, Mai Hùng S và Lâm Thành C phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Cáo trạng số 28/CT- VKSTX ngày 28/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân truy tố các Bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[ 3] Xét về tính chất của vụ án thì HĐXX thấy rằng: Đây là vụ án có tính chất rất nghiêm trọng. Vụ án có nhiều Bị cáo.

[ 4 ] Xét về mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các Bị cáo HĐXX thấy rằng: Hành vi của các Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Hành vi của các Bị cáo làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội. Ma túy là cầu nối của đại dịch HIV, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Do đó cần phải xử phạt nghiêm minh mới đủ sức răn đe, giáo dục các Bị cáo và có tác dụng phòng ngừa tội phạm chung trong toàn xã hội.

[5]. Xét về vai trò thực hiện hành vi phạm tội của các Bị cáo HĐXX thấy rằng: Trong vụ án này các Bị cáo phạm tội không phải là trường hợp phạm tội có tổ chức mà chỉ là đồng phạm giản đơn.

  • Bị cáo Q là người trực tiếp bán ma túy năm lần nên Bị cáo Quảng xếp vai trò cao nhất và phải chịu mức hình phạt cao nhất.
  • Bị cáo S tham gia với vai trò đồng phạm là người giúp sức, Bị cáo S mua hộ ma túy cho Bị cáo Quảng bán trái phép và hưởng lợi số tiền 1.800.000đ. Ngoài ra Bị cáo S còn giới thiệu cho T1 và phương mua ma tuý của Q. Do đó Bị cáo S xếp vai trò thứ 2 và phải chịu mức hình phạt thấp hơn bị cáo Q, cao hơn Bị cáo Chung.
  • Bị cáo Chung tham gia với vai trò đồng phạm là người giúp sức, Bị cáo Chung nhắn tin giả làm người bán ma tuý để cho Bị cáo Quảng bán trái phép ma tuý cho P. Ngoài ra Bị cáo C1 còn giúp sức cho Q bán ma tuý cho T1. Do đó Bị cáo Chung xếp vai trò cuối cùng trong vụ án và phải chịu mức hình phạt thấp nhất.

[6] Xét về nhân thân các Bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì HĐXX thấy rằng:

Các Bị cáo đều có nhân thân tốt, không có Tiền án, Tiền sự, lần đầu phạm tội, không có tình tiết tăng nặng; Tại phiên tòa các Bị cáo đều thành khẩn khai báo hành vi phạm tội nên các Bị cáo đều được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 BLHS. Bị cáo Chung được Chủ tịch nước C4 tặng Huy chương chiến sĩ vẻ vang và được tặng Giấy khen nên Bị cáo Chung được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm v khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự; Các Bị cáo S và C1 đều đã đầu thú; Bị cáo Q có mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị N là thương binh và được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhì và hạng 3; Bị cáo S có ông nội là ông Mai Hùng C2 được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba nên các Bị cáo đều được hưởng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự. Mặt khác các Bị cáo S và C1 đều đã có thời gian phục vụ trong Quân đội nên HĐXX sẽ giảm nhẹ một phần hình phạt cho các Bị cáo để các Bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật.

[7]. Về hình phạt: HĐXX xét thấy các Bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng và đều là Tội phạm về ma túy. Vì vậy HĐXX áp dụng hình phạt tù đối với các Bị cáo, bắt các Bị cáo cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục các Bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội.

Đối với Bị cáo S tham gia với vai trò đồng phạm trong vụ án, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên HĐXX cho Bị cáo được hưởng mức án đầu khung hình phạt là phù hợp.

Riêng đối với Bị cáo Chung giữ vai trò thứ yếu trong vụ án, có đến ba tình tiết giảm nhẹ, trong đó có hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự nên HĐXX áp dụng điều 54 Bộ luật Hình sự cho Bị cáo Chung được hưởng mức án dưới khung hình phạt là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện hoàn cảnh gia đình của các Bị cáo hiện tại kinh tế khó khăn, bản thân các Bị cáo đều phải chấp hành hình phạt tù nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các Bị cáo.

[8] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K2 Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh T4, Lương Xuân N3 và hình dấu của Phòng K2 Công an tỉnh T. Bên trong là phong bì mặt trước ghì “thu của T1”; Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của phong bì mặt trước ghi “thu của P” và 0,016g các hạt tinh thể màu trắng; 01 (một) phong bì niêm phong có các chữ ký, chữ viết của Trần Thị Thúy H2, Lê Hữu H3 và các hình dấu của Phòng K2 Công an tỉnh T bên trong chứa 01 (một) túi nilon màu trắng, dạng túi zip, viền xanh; 01 (một) phong bì có chữ KLGĐ số 4494/KL-KTHS ngày 25/11/2024, được dán kín niêm phòng bởi các chữ ký đứng tên Trần Thị H4, Lê Hữu H3 và các hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: “Phòng K2 - Công an tỉnh T”. Bên trong là 01 đĩa DVD-R màu vàng là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên HĐXX căn cứ vào điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 130, màu đen, đã qua sử dụng, có IMEI 1: 357699101223343; IMEI 2: 357699101723342, gắn thẻ sim số thuê bao 0876.351.111; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5s, màu đen, đã qua sử dụng, có IMEI 1: 865222043143696, IMEI 2: 865222943143688, gắn sim 1 số 0856.436.567, sim 2 số: 0942.308.274; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A02s, màu đen, đã qua sử dụng, có IMEI 1: 352845141808230, IMEI 2: 353051561808235, gắn thẻ sim 1 số: 0976.383.127, sim 2 số: 0348.730.265; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12Pro Max, màu vàng, đã qua sử dụng, IMEI: 354703753335638, IMEI 2: 354703753396697, gắn thẻ sim số thuê bao: 0777.552.626, là công cụ phương tiện phạm tội nên HĐXX căn cứ vào điểm a khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 điều 106 BLTTHS tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với số tiền 350.000đ thu của S là tiền do phạm tội mà có nên HĐXX căn cứ vào điểm b khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự và điểm b khoản 2 điều 106 BLTTHS tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với số tiền 1.500.000đ Bị cáo Q đã bán ma tuý cho T1 và P; Số tiền 1.800.000₫ Bị cáo S được trả công do mua hộ ma tuý cho Q đều là tiền do phạm tội mà có nên cần truy thu sung quỹ Nhà nước. Cơ quan điều tra đã thu giữ của Bị cáo S số tiền 350.000đ nên số tiền còn lại phải truy thu là 1.450.000đ.

Đối với: Các mảnh vỡ của con khỉ đất màu hồng cam và 01 (một) hộp giấy bằng bìa cattong, dán băng dính màu hồng in chữ “hàng dễ vỡ” là vật chứng không có giá trị nên HĐXX căn cứ vào điểm c khoản 2 điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu tiêu huỷ.

[9] Về án phí: Các Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định tại khoản 2 điều 136 BLTTHS; Điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH

[10] Về quyền kháng cáo: Các Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 điều 331 và khoản 1 điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm b khoản 2 điều 251; Điểm s khoản 1, 2 điều 51; Khoản 1 điều 38; Điều 17 Bộ luật Hình sự đối với các Bị cáo: Nguyễn Xuân Q, Mai Hùng S và Lâm Thành C; Áp dụng thêm điểm v khoản 1 điều 51 và điều 54 BLHS đối với Bị cáo Lâm Thành C;

- Tuyên bố: Các Bị cáo: Nguyễn Xuân Q, Mai Hùng S và Lâm Thành C phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt: 1. Bị cáo Nguyễn Xuân Q 08(tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 18/10/2024.

2. Bị cáo Mai Hùng S 07(bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 16/10/2024.

3. Bị cáo Lâm Thành C 05(năm) năm 06(sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 16/10/2024.

- Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, b, c khoản 2 điều 106 BLTTHS:

Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K2 Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh T4, Lương Xuân N3 và hình dấu của Phòng K2 Công an tỉnh T. Bên trong là phong bì mặt trước ghì “thu của T1”; Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của phong bì mặt trước ghi “thu của P” và 0,016g các hạt tinh thể màu trắng. 01 (một) phong bì niêm phong có các chữ ký, chữ viết của Trần Thị Thúy H2, Lê Hữu H3 và các hình dấu của Phòng K2 Công an tỉnh T bên trong chứa 01 (một) túi nilon màu trắng, dạng túi zip, viền xanh. 01 (một) phong bì có chữ KLGĐ số 4494/KL-KTHS ngày 25/11/2024, được dán kín niêm phòng bởi các chữ ký đứng tên Trần Thị H4, Lê Hữu H3 và các hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: “Phòng K2 - Công an tỉnh T”. Bên trong là 01 đĩa DVD-R màu vàng; Các mảnh vỡ của con khỉ đất màu hồng cam và 01 (một) hộp giấy bằng bìa cattong, dán băng dính màu hồng in chữ “hàng dễ vỡ”;

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước gồm: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 130, màu đen, đã qua sử dụng, có IMEI 1: 357699101223343; IMEI 2: 357699101723342, gắn thẻ sim số thuê bao 0876.351.111; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5s, màu đen, đã qua sử dụng, có IMEI 1: 865222043143696, IMEI 2: 865222943143688, gắn sim 1 số 0856.436.567, sim 2 số: 0942.308.274; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A02s, màu đen, đã qua sử dụng, có IMEI 1: 352845141808230, IMEI 2: 353051561808235, gắn thẻ sim 1 số: 0976.383.127, sim 2 số: 0348.730.265; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12Pro Max, màu vàng, đã qua sử dụng, IMEI: 354703753335638, IMEI 2: 354703753396697, gắn thẻ sim số thuê bao: 0777.552.626; Số tiền 350.000đ;

Truy thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 1.500.000đ đối với Bị cáo Q; Số tiền 1.450.000đ đối với Bị cáo S.

Toàn bộ số vật chứng trên thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng số 30 ngày 28/02/2025 của chi cục Thi hành án dân sự huyện Thọ Xuân .

- Về án phí : Căn cứ khoản 2 điều 136 BLTTHS; Điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH;

Buộc các Bị cáo Nguyễn Xuân Q, Mai Hùng S và Lâm Thành C, mỗi Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST.

- Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1 điều 331 và khoản 1 điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

Các Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Thọ Xuân;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa
  • - THA Dân sự;
  • - THA Hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá
  • - Phân trại tạm giam khu vực Thọ Xuân
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2025/HS-ST ngày 02/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 26/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Quảng và ĐP bán ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger