|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 26/2025/HS-ST Ngày 25-02-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trịnh Khắc Thịnh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Thanh Hiên
Bà Hà Thị Nga
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Cẩm Hương, thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thu Hoài, kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 17/TLST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Lò Văn T, sinh ngày 17 tháng 11 năm 1992 tại Sơn La; nơi đăng ký thường trú: Bản Thẳm, xã T, huyện T, tỉnh Sơn La; nơi ở hiện tại: Thôn Q, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương (nay là thị trấn P, huyện K, tỉnh Hải Dương); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn H và bà Lò Thị N, có vợ là Lò Thị P sinh năm: 1999 và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Án số 97/HSST ngày 14/9/2020 của Toà án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 22 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Đã xoá án tích); tạm giữ ngày 14/10/2024; tạm giam ngày 22/10/2024; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 55 phút ngày 14/10/2024, tổ công tác Công an phường D trong khi làm nhiệm vụ tại khu vực ngách 7/64/476 Chợ Hàng, phường D, quận L, Hải Phòng phát hiện Lò Văn T có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Khi tổ công tác tiến hành kiểm tra, T thả từ tay trái xuống dưới đất cách chân trái của T khoảng 20 cm 01 gói giấy, bên trong chứa chất bột dạng cục nghi là ma túy. Tổ công tác đã đưa T cùng vật chứng về trụ sở Công an phường D lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang. Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ của T số tiền 500.000 đồng và 01 xe mô tô biển kiểm soát 26K7-6454.
Tại Kết luận giám định số 1210/KLGĐ-MT ngày 18/10/2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: “Chất bột màu trắng trong 01 túi nilon thu giữ của Lò Văn T là ma túy, có khối lượng: 0,16 gam, là loại Heroine.”
Tại Cơ quan điều tra, Lò Văn T khai: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 14/10/2024, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 26K7-6454 đến khu vực chắn tàu T, quận L, Hải Phòng gặp và hỏi mua ma túy của một người nam giới không quen biết. Người nam giới bảo T điều khiển xe mô tô đi theo đến ngách 7/64/476 Chợ Hàng. Đến nơi, người nam giới dừng xe bảo T đứng chờ còn người này đi bộ sâu vào trong ngõ, khoảng 03 – 04 phút sau quay lại đưa cho T 01 gói giấy màu trắng bên trong có chứa ma túy Heroine. Tiếp đưa cho người nam giới 300.000 đồng rồi điều khiển xe mô tô đi ra đầu ngách 7/64/476 Chợ Hàng thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt giữ như nội dung nêu trên.
Về vật chứng: Chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận L: 01 phong bì có dấu niêm phong số 1210MT/PC09 đựng số ma túy còn lại sau giám định cùng vỏ bao bì, số tiền 500.000 đồng.
Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 26K7-6454, quá trình điều tra chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L tiếp tục tạm giữ, xác minh, xử lý khi có căn cứ.
Đối với người nam giới bán ma túy cho Lò Văn T, quá trình điều tra không xác định được căn cước, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L có cơ sở để điều tra, xử lý.
Tại Cáo trạng số 19/CT-VKSLC ngày 14 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố Lò Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất của vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lò Văn T mức án từ 18 tháng đến 24 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ma túy và vỏ bao bì được hoàn lại sau giám định có số 1210MT/PC09 của phòng K công an Thành phố H và trả lại cho bị cáo 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án, (Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận L, thành phố Hải Phòng và Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng ngày 14/01/2025 và theo Ủy nhiệm chi giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận L, thành phố Hải Phòng và Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng ngày 17/01/2025). Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Lò Văn T đồng ý với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về căn cứ xác định tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo:
[2] Tại phiên toà bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Đối chiếu lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ chứng minh có trong hồ sơ vụ án và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Tại khu vực đầu ngách 7 Chợ H, phường D, quận L, Hải Phòng, hồi 11 giờ 55 phút ngày 14/10/2024, Lò Văn T đã có hành vi cất giữ trái phép 0,16 gam Heroine để sử dụng cho bản thân thì bị bắt quả tang. Hành vi của bị cáo Lò Văn T đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do vậy Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- Về tính chất của vụ án:
[3] Tính chất của vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, gây tác hại xấu đến sức khỏe con người và là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội khác. Bị cáo nhận thức rõ H1 là chất ma tuý nằm trong danh mục quản lý của Nhà nước, cấm cất giữ, lưu hành trái phép dưới mọi hình thức; nhưng để thỏa mãn nhu cầu của mình, bị cáo vẫn cất giữ trái phép để sử dụng. Vì vậy, cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội và đặc điểm nhân thân của bị cáo.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
[4] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[5] Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã khai báo thành khẩn hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt áp dụng:
[6] Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người có nhân thân xấu. Đã từng bị xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý song bị cáo không lấy đó là bài học mà lại tiếp tục phạm tội cùng loại. Do vậy, cần áp dụng mức hình phạt mà Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đề xuất là phù hợp, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
- Về hình phạt bổ sung:
[7] Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền. Do bị cáo không nghề nghiệp, không thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
[8] Số ma tuý mà cơ quan Công an thu giữ khi bắt giữ bị cáo, sau khi lấy đi giám định, lượng còn lại xét là vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ma túy và vỏ bao bì được hoàn lại sau giám định có số 1210MT/PC09 của phòng K công an Thành phố H
[9] Số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) thu giữ khi bắt bị cáo Hội đồng xét thấy số tiền trên là của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí:
[10] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo:
[11] Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 điểm; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Lò Văn T 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14 tháng 10 năm 2024.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ma túy và vỏ bao bì được hoàn lại sau giám định có số 1210MT/PC09 của phòng K công an Thành phố H (Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận L, thành phố Hải Phòng và Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng ngày 29/11/2024). Trả lại cho bị cáo 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án (Theo Ủy nhiệm chi giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận L, thành phố Hải Phòng và Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng ngày 17/01/2025).
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lò Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự
Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Khắc Thịnh |
Bản án số 26/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 26/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lò Văn T - tàng trữ trái phép chất ma tuý
