|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG - TP. ĐÀ NẴNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 26/2025/HS-ST
Ngày: 3-4-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG - TP. ĐÀ NẴNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Văn Cương
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Văn Bút Bà Nguyễn Thị Thủy
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Lê Mai Ly – Thư ký Toà án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 4 năm 2025 tại Hội trường Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, TP Đà Nẵng, Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang mở phiên toà lưu động công khai xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 29/2025/TLHS-ST ngày 17 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:
-
Nguyễn V (Tên gọi khác: T), sinh ngày 27/01/1997 tại Đà Nẵng; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện H, TP Đà Nẵng; Số căn cước công dân: [...]; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn T1 và bà Nguyễn Thị S (cả 2 đều còn sống), có vợ là Đinh Thị L, có 01 con sinh năm 2017; Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 19/01/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 18 tháng. Chấp hành xong ngày 01/02/2024.
Nhân thân:
Ngày 10/11/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 15 tháng. Chấp hành xong ngày 06/9/2021.
Ngày 30/01/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 15 tháng. Chấp hành xong ngày 15/11/2019.
Bị cáo bị bắt giam ngày 25/11/2024. Có mặt tại phiên tòa.
-
Bùi Quang, sinh ngày 15/01/1999 tại Đà Nẵng; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện H, TP Đà Nẵng; Số căn cước công dân: [...]; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông không xác định, con bà Bùi Thị T2 (còn sống); Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 14/12/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 12 tháng. Chấp hành xong ngày 09/8/2023.
Bị cáo bị bắt giam ngày 25/11/2024. Có mặt tại phiên tòa.
-
Đỗ P, sinh ngày 07/01/1998 tại Đà Nẵng; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện H, TP Đà Nẵng; Số căn cước công dân: [...]; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ T3 và bà Nguyễn Thị Mộng T4; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt giam ngày 25/11/2024. Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Ông Phạm Văn X, sinh ngày 13/6/2003; Địa chỉ: Thôn A, xã H, huyện H, TP Đà Nẵng; Vắng mặt.
- + Ông Doãn T5, sinh năm 1963; Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện H, TP Đà Nẵng; Vắng mặt.
- + Bà Trần Thị Ngọc H, sinh năm 1976; Địa chỉ: Thôn A, xã H, huyện H, TP Đà Nẵng; Vắng mặt.
- + Ông Đỗ T3, sinh năm 1969; Địa chỉ: tổ D, thôn T, xã H, huyện H, TP Đà Nẵng. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 25/11/2024 tại ngôi nhà bỏ hoang thuộc thôn T, xã H, huyện H, TP ., Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế và ma tuý Công an huyện H tiến hành kiểm tra hành chính, phát hiện, bắt quả tang Nguyễn V, Đỗ P, Bùi Q đang tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý cùng với Phạm Văn X (sinh năm: 2003, địa chỉ: Thôn A, xã H, huyện H, TP .).
Tang vật tạm giữ:
01 vỏ bao nilong có dính chất bột màu trắng nghi là chất ma tuý (kí hiệu A); 01 chai nhựa có gắn nắp nhựa đã bị đục thủng 02 lỗ, 01 lỗ có gắn 01 ống hút nhựa, 01 lỗ để trống; Nhiều mảnh vỡ thuỷ tinh (kí hiệu B); 01 bật lửa; 01 xe mô tô gắn BKS 43K1- 079.94; 01 xe mô tô gắn BKS 43K9- 6360; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia gắn sim 0934.934.724; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo gắn sim 0763.525.208; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi gắn sim 0769.164.810; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus gắn sim 0865.769.943
Tại Bản kết luận giám định số 985/GĐ-MT ngày 04/12/2024 của Phòng K Công an thành phố Đ kết luận: Chất tinh thể màu trắng bám dính trong vỏ bao nilong; chất màu nâu bám dính trong các mảnh vỡ thuỷ tinh trong các bì niêm phong gửi giám định đều là ma tuý loại Methamphetamine. Không xác định được khối lượng các mẫu.
Tại Bản kết luận giám định số 994/GĐ-MT ngày 06/12/2024 của Phòng K Công an thành phố Đ kết luận: Trong mẫu nước tiểu thu của Nguyễn V, Đỗ P, Bùi Q, Phạm Văn X đều tìm thấy chất ma túy loại Methamphetamine.
Qua trình điều tra xác định: Vào chiều ngày 25/11/2024, do có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma tuý nên Nguyễn V điện thoại rủ Đỗ P và Bùi Q sử dụng ma tuý đá thì P và Q đồng ý. Sau khi nhận được điện thoại của V thì P điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream gắn BKS 43K9- 6360 đến nhà V và V chở P đến nhà Q. Tại đây, V, Q, P thống nhất mua ma tuý rồi đem xuống căn nhà hoang thuộc thôn T, xã H, huyện H, TP . để sử dụng. Vọng liên hệ với một người tên L1 (chưa xác định nhân thân, lai lịch) hỏi mua một gói ma tuý với giá 300.000 thì L1 đồng ý và hẹn giao dịch tại khu vực xã H, huyện H. Sau khi liên hệ mua ma tuý thì V điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream gắn BKS 43K9- 6360 chở P, Q đến căn nhà hoang và để P xuống xe chờ còn V chở Q vào xã H để lấy ma tuý. Đến điểm hẹn, V lấy ma tuý và đưa 300.000 đồng tiền mặt cho L1 rồi chở Q quay lại ngôi nhà hoang. Về đến nơi, V nói Q đi vào trong nhà lấy bộ dụng cụ sử dụng ma tuý mà V cất giấu từ trước đem ra rồi Vọng đổ ma tuý đá vào nỏ thuỷ tinh, dùng lửa đốt nóng ma tuý để cả ba thay phiên nhau hút. Đang chơi thì Q nói V rủ thêm Phạm Văn X đến để cùng sử dụng và đưa điện thoại của mình cho V, V gọi rủ X đến sử dụng ma tuý thì X đồng ý. Một lúc sau, X điều khiển xe mô tô gắn BKS 43K1- 079.94 đến cùng sử dụng ma tuý với cả nhóm. Đến khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày khi cả nhóm đang sử dụng trái phép chất ma tuý thì bị phát hiện bắt quả tang như đã nêu trên.
Với nội dung trên, tại Bản cáo trạng số 33/CT-VKSHV ngày 12/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng đã truy tố các bị cáo Nguyễn V, Bùi Q, Đỗ P về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn V, Bùi Q, Đỗ P đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng; các bị cáo thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang đã truy tố các bị cáo về các tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự là đúng tội, không oan. Các bị cáo đã thấy sai trái, ăn năn hối cải. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo Nguyễn V, Bùi Q, Đỗ P về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Vọng M án từ 08 năm 06 tháng tù đến 09 năm tù.
Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Quang M1 án từ 08 năm tù đến 08 năm 06 tháng tù.
Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Phương M2 án từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù.
Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 bì niêm phong ký hiệu A bên trong chứa vỏ bao nilong và toàn bộ bao gói mẫu; 01 bì niêm phong ký hiệu B, bên trong chứa các mảnh vỡ thuỷ tinh và toàn bộ bao gói mẫu; 01 chai nhựa có gắn nắp nhựa đã bị đục thủng 02 lỗ, 01 lỗ có gắn 01 ống hút nhựa, 01 lỗ để trống; 01 bật lửa xét không còn giá trị sử dụng đề nghị tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus đây là tài sản các bị cáo dùng liên lạc, rủ nhau để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Riêng đối với các sim gắn theo điện thoại cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với xe 01 xe mô tô gắn BKS 43K1- 079.94: Xe này do ông Đỗ T3 là cha ruột của Đỗ P làm chủ sở hữu và ngày 25/11/2024 cho P mượn để sử dụng. Việc Đỗ P sử dụng trái phép chất ma tuý thì ông T3 không biết nên Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho ông T3. Ông T3 đã nhận lại tài sản.
- - Đối với 01 xe mô tô gắn BKS 43K9- 6360: Xe này do bà Trần Thị Ngọc H là mẹ ruột của Phạm Văn X làm chủ sở hữu, ngày 25/11/2024 bà H cho Xuân mượn để sử dụng. Việc Phạm Văn X sử dụng trái phép chất ma tuý thì bà H không biết nên Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bà H là có cở sở.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đều hợp pháp.
[2] Về xác định hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn V, Bùi Q, Đỗ P đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các vật chứng thu giữ, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:
Vào chiều ngày 25/11/2024, do có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma tuý nên Nguyễn V rủ Đỗ P và Bùi Q sử dụng trái phép chất ma tuý thì P và Q đồng ý. Các bị cáo V, Q, P thống nhất mua ma tuý rồi đem xuống căn nhà hoang thuộc thôn T, xã H, huyện H, TP . để sử dụng. Vọng liên hệ đối tượng tên L1 (chưa xác định nhân thân, lai lịch) mua 300.000 đồng ma túy và chở Q đến khu vực xã H để nhận ma túy. Sau khi mua được ma túy V chở Q quay lại căn nhà bỏ hoang, V nói Q đi vào trong nhà lấy bộ dụng cụ sử dụng ma tuý mà V cất giấu từ trước đó. Vọng đổ ma tuý đá vào nỏ thuỷ tinh, dùng lửa đốt nóng ma tuý để cả ba thay phiên nhau hút. Trong lúc đang sử dụng ma túy thì Q nói V rủ thêm Phạm Văn X đến cùng sử dụng, Q đưa điện thoại để V gọi điện thoại rủ X đến cùng sử dụng ma tuý. Đến khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày khi cả nhóm đang sử dụng trái phép chất ma tuý thì bị phát hiện bắt quả tang.
Như vậy, Nguyễn V, Bùi Q, Đỗ P đã có hành vi tổ chức cho V, Q, P cùng Phạm Văn X sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi của các bị cáo Nguyễn V, Bùi Q, Đỗ P đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự như Bản cáo trạng số 33/CT-VKSHV ngày 12/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng đã truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất vụ án thì thấy:
Đây là vụ án có tính chất rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo biết rõ tác hại của chất ma túy đối với cộng đồng, xã hội, sức khỏe, tinh thần của người sử dụng. Nhưng các bị cáo bất chấp pháp luật, tổ chức cho bản thân các bị cáo và người khác sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý các chất ma túy của nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội, có nguy cơ làm gia tăng nhiều tội phạm và các tệ nạn xã hội khác, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của nòi giống dân tộc. Do đó, đối với các bị cáo cần xử phạt nghiêm để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
[4] Xét vai trò, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo thì thấy:
Trong vụ án này bị cáo Nguyễn V là người giữ vai trò chính, khởi xướng, rủ rê bị cáo Q, P cùng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Sau khi thống nhất lựa chọn địa điểm, V đi mua ma túy, chuyển bị dụng cụ sử dụng ma túy, đốt ma túy để cả nhóm cùng sử dụng; cùng với Bùi Q rủ thêm Phạm Văn X cùng sử dụng ma túy. Bị cáo có nhân thân rất xấu đã 03 lần bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng không từ bỏ được ma túy, nay tiếp tục tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho nhiều người.
Bị cáo Bùi Quang tham G với vai trò tích cực thống nhất cùng đồng phạm tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; cùng với Nguyễn V đi mua ma túy, lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy, rủ Phạm Văn X cùng sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo Q cũng có nhân thân xấu đã 01 lần bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, khi tái hòa nhập cộng đồng không từ bỏ ma túy mà tiếp tục cùng các bị cáo khác tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Bị cáo Đỗ P đã thống nhất ý chí cùng với các bị cáo Nguyễn V, Bùi Q tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, giao xe mô tô cho V, Q đi mua ma túy về cùng sử dụng nên bị cáo phải chịu trách nhiệm đồng phạm cùng với các bị cáo Nguyễn V, Bùi Quang .
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo Nguyễn V, Bùi Q, Đỗ P không có tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo khai báo thành khẩn, có thái độ ăn năn hối cải; hoàn cảnh gia đình bị cáo P khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương. Bị cáo P có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, tham gia với vai trò đồng phạm có mức độ. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm một phần hình phạt cho cả 03 bị cáo; áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáp P. Ngoài ra, Hội đồng xét xử áp sẽ áp dụng Điều 58 Bộ luật Hình sự để phân hóa hình phạt đối với các bị cáo.
[5] Về quyết định hình phạt: Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử quyết định xử phạt bị cáo Nguyễn Vọng M án cao nhất, bị cáo Bùi Quang M1 án cao hơn bị cáo Đỗ Phương .1
[6] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 bì niêm phong ký hiệu A bên trong chứa vỏ bao nilong và toàn bộ bao gói mẫu; 01 bì niêm phong ký hiệu B, bên trong chứa các mảnh vỡ thuỷ tinh và toàn bộ bao gói mẫu; 01 chai nhựa có gắn nắp nhựa đã bị đục thủng 02 lỗ, 01 lỗ có gắn 01 ống hút nhựa, 01 lỗ để trống; 01 bật lửa xét không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia (thu giữ của bị cáo Nguyễn V); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo (thu giữ của bị cáo Bùi Q); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi (thu giữ của Phạm Văn X); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus (thu giữ của bị cáo Đỗ P) đây là tài sản các bị cáo dùng liên lạc, rủ nhau để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- - Đối với các thẻ sim 0934.934.724 (gắn trong điện thoại Nokia); 0763.525.xxx (gắn điện thoại Oppo); 0769.164.xxx (gắn điện thoại Radmi); 0865.769.xxx (gắn điện thoại Iphone 7 plus) cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với xe 01 xe mô tô gắn BKS 43K1- 079.94: Xe này do ông Đỗ T3 là cha ruột của Đỗ P làm chủ sở hữu, ngày 25/11/2024 ông T3 cho P mượn để sử dụng. Việc Đỗ P sử dụng trái phép chất ma tuý thì ông T3 không biết nên Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho ông T3. Ông T3 đã nhận lại tài sản là có cơ sở.
- - Đối với 01 xe mô tô gắn BKS 43K9- 6360: Xe này do bà Trần Thị Ngọc H là mẹ ruột của Phạm Văn X làm chủ sở hữu, ngày 25/11/2024 bà H cho Xuân mượn để sử dụng đi lại. Việc Phạm Văn X sử dụng trái phép chất ma tuý thì bà H không biết nên Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bà H là có cơ sở.
- [7] Về án phí: Các bị cáo Nguyễn V, Bùi Q, Đỗ P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật;
- [8] Đối với đối tượng Phạm Văn X có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an huyện H đã ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là có căn cứ.
Đối tượng tên L1 bán ma túy cho Nguyễn V hiện chưa xác định nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, làm rõ, xư lý sau.
[9] Về cơ bản các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Riêng đề nghị xử phạt bị cáo Đỗ Phương L2 có phần nghiêm khắc vì bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, hoàn cảnh gia đình khó khăn, tham gia có mức độ nên Hội đồng xét xử quyết định hình phạt đối với bị cáo Đỗ Phương D mức Viện kiểm sát đã đề nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn V, Bùi Q, Đỗ P phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
-
Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn V 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam, ngày 25/11/2024.
-
Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Bùi Quang 0 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam, ngày 25/11/2024.
-
Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Đỗ Phương 01 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam, ngày 25/11/2024.
-
Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
-
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm:
- + 01 bì niêm phong ký hiệu A bên trong chứa vỏ bao nilong và toàn bộ bao gói mẫu;
- + 01 bì niêm phong ký hiệu B, bên trong chứa các mảnh vỡ thuỷ tinh và toàn bộ bao gói mẫu;
- + 01 chai nhựa có gắn nắp nhựa đã bị đục thủng 02 lỗ, 01 lỗ có gắn 01 ống hút nhựa, 01 lỗ để trống; 01 bật lửa.
- + Các thẻ sim gồm: sim số 0934.934.724 (gắn trong điện thoại Nokia); 0763.525.xxx (gắn điện thoại Oppo); 0769.164.xxx (gắn điện thoại Radmi); 0865.769.xxx (gắn điện thoại Iphone 7 plus)
- Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước 04 điện thoại di động các loại, gồm:
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia thu giữ của bị cáo Đỗ Phương
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo thu giữ của bị cáo Bùi Quang
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi thu giữ của Phạm Văn X
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus thu giữ của Đỗ P
(Vật chứng chi cục thi hành án dân sự huyện Hòa Vang đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/3/2025)
-
Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Nguyễn V, Bùi Q, Đỗ Phương M3 bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Văn Cương |
Bản án số 26/2025/HS-ST ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG - TP. ĐÀ NẴNG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 26/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG - TP. ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: guyễn V cùng đồng phạm tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
