TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 26/2025/HS-ST Ngày: 17-02-2025 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Văn Bang.
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Ngô Kim Thành
Bà Vương Thị Minh Tân.
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thiên Dung - Thư ký Toà án nhân dân thành
phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định
tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Tiến Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 11/2025/HS-ST ngày 15 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Duy K (tên gọi khác: Nguyễn Văn K1), sinh ngày 20 tháng 02 năm 1992, tại: tỉnh Nam Định; số căn cước công dân: [...]; Nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Thôn Đ, xã X, huyện X; tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Phạm Thị M; chưa có vợ, con; tiền án: Bản án số 20/2023/HS-ST ngày 29-3-2023, Toà án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định xử phạt 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” (chấp hành xong án phạt tù ngày 15-10-2024); tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 07-01-2022, Công an xã G, huyện G, tỉnh Nam Định xử phạt vi phạm hành chính hình thức phạt tiền về hành vi sử dụng pháo trái phép.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19-12-2024, chuyển tạm giam từ ngày 28-12-2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 19-12-2024, tổ công tác Công an thành phố N làm nhiệm vụ tại khu vực ngã tư đường T, đường G, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định phát hiện Nguyễn Duy K điều khiển xe máy kiểu dáng xe Dream, biển kiểm soát 29M9-1232 chở một bao tải màu đỏ có biểu hiện nghi vấn đến đã tiến hành kiểm tra, phát hiện bên trong bảo tải có 06 vật hình khối hộp, bên ngoài được bọc giấy nhiều màu sắc, mỗi vật có kích thước khoảng (15x15x14,5) cm. Trong đó có 04 vật cùng loại, trên vật có in dòng chữ “JIAXINGCAIWANG” và 02 hai vật cùng loại, trên vật có in dòng chữ “CAIFUZHIXING”. K khai nhận đó đều là pháo nổ đang vận chuyển để lấy tiền công. Tổ công tác đã thu giữ, niêm phong vật chứng, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Duy K. Ngoài ra còn tạm giữ của K chiếc xe máy trên và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu POCO; 06 tờ tiền mệnh giá mỗi tờ 200.000 đồng.
Ngày 19-12-2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, tỉnh Nam Định ra Quyết định số 3668/QĐ-ĐCSKT trưng cầu giám định pháo nổ đối với 06 (sáu) vật hình khối hộp, nên ngoài được bọc giấy nhiều màu sắc, mỗi vật có kích thước khoảng (15x15x14,5) cm đã thu giữ được của Nguyễn Duy K. Tại Bản kết luận giám định số 139/KL-KTHS ngày 24-12-2024 của Phòng K2 Công an tỉnh N kết luận:
- 04 vật cùng loại, hình khối hộp, mỗi vật có kích thước khoảng (15x15x14,5) cm, bên ngoài được bọc giấy nhiều màu sắc, trên vật có dòng chữ “JIAXINGCAIWANG” là pháo nổ (loại pháo hoa nổ) có tổng khối lượng là 5,979 kg.
- 02 vật cùng loại, hình khối hộp, mỗi vật có kích thước khoảng (15x15x14,5) cm, bên ngoài được bọc giấy nhiều màu sắc, trên vật có dòng chữ “CAIFUZHIXING” thu giữ của Nguyễn Duy K là pháo nổ (loại pháo hoa nổ) có tổng khối lượng là 3,062 kg.
Ngày 19-12-2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N ra Quyết định số 3670/QĐ-ĐCSKT trưng cầu giám định đường vân trên các vật chứng thu giữ được của Nguyễn Duy K. Tại Bản kết luận giám định số 103/KL-KTHS ngày 31-12-2024 của Phòng K2 Công an tỉnh N kết luận:
- Trên mẫu vật gồm 04 vật cùng loại, hình khối hộp, mỗi vật có kích thước khoảng (15x15x14,5) cm, bên ngoài được bọc giấy nhiều màu sắc, trên giấy có dòng chữ “JIAXINGCAIWANG” phát hiện được 07 dấu vết đường vân, trong đó có 01 dấu vết đường vân rõ ràng, đủ yếu tố giám định (ký hiệu A18);
- Trên mẫu vật gồm 02 vật cùng loại, hình khối hộp, mỗi vật có kích thước khoảng (15x15x14,5) cm, bên ngoài được bọc giấy nhiều màu sắc, trên giấy có dòng chữ “CAIFUZHIXING” phát hiện được 05 dấu vết đường vân, trong đó có 01 dấu vết đường vân rõ ràng, đủ yếu tố giám định (ký hiệu A19);
- Trên mẫu vật điện thoại di động, màu xanh, nhãn hiệu Vsmart phát hiện 01 (một) dấu vết đường vân rõ ràng, đủ yếu tố giám định (ký hiệu A20);
- Trên các mẫu vật điện thoại di động, màu xanh, nhãn hiệu POCO; chiếc bao tải màu đỏ và 06 tờ tiền polyme, loại tiền Việt Nam đồng, mệnh giá mỗi tờ 200.000 đồng không phát hiện thấy dấu vết đường vân.
So sánh 03 dấu vết đường vân ký hiệu A18, A19, A20 với mẫu đường vân “Giữa Trái”, “Nhẫn trái”, “Trỏ phải” trên chỉ bản của Nguyễn Duy K xác định là của cùng một người.
Ngày 19-12-2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N ra Quyết định số 3669/QĐ-ĐCSKT trưng cầu giám định dữ liệu kỹ thuật số điện tử trong chiếc điện thoại VSMART thu giữ được của Nguyễn Duy K. Kết luận giám định số 118/KL-KTHS ngày 27-12-2024 của Phòng K2 kết luận: thu được 09 đoạn tin nhắn của khách nội dung giục K giao pháo trong chiếc điện thoại VSMART.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Duy K khai nhận: Vào khoảng 11 giờ ngày 18-12-2024, khi K đứng ở khu vực ngã 3 L, thị trấn X, huyện X thì một người tên T1 (không rõ tên tuổi, địa chỉ) điều khiển xe máy không lắp biển số đến làm quen và trao đổi số điện thoại để liên lạc. Khoảng 07 giờ 20 phút ngày 19-12-2024, T1 gọi cho K, hẹn cùng nhau lên thành phố N để chở cá thuê. Đến 11 giờ 30 phút, K và T1 mỗi người điều khiển một xe máy cùng lên thành phố N. Khi đi đến khu vực ngã ba Quốc lộ C vào đường trục khu công nghiệp H, thành phố N thì cả hai dừng xe đi bộ vào giữa cánh đồng đến chân cột điện cao thế gặp một người đàn ông đứng cạnh 02 bao tải nhưng không giống bao đựng cá. Người đàn ông yêu cầu T1 và K kiểm tra hai bao tải. Khánh kiểm tra một bao phát hiện có 06 dàn pháo hoa nổ còn chiếc bao còn lại K không quan sát được. T1 rủ K cùng đi chở số pháo này đi cho khách để lấy tiền công, K đồng ý rồi mỗi người buộc một bao vừa kiểm tra lên xe của mình. T1 đưa trước cho K 1.200.000 đồng, hẹn khi giao được hàng sẽ nhận nốt 800.000 đồng từ khách. Ngoài ra T1 còn đưa cho K 01 chiếc điện thoại VSMART để liên lạc rồi cả hai điều khiển xe về hướng đường T, thành phố N. Đến 13 giờ 30 phút khi đi đến ngã tư giao với đường G gặp đèn tín hiệu giao thông thì T1 đi trước còn K dừng chờ đèn đỏ thì bị phát hiện bắt giữ.
Đối với người đàn ông tên “T1” rủ Nguyễn Duy K đi vận chuyển pháo nổ và người đàn ông đã giao túi pháo nổ cho Nguyễn Duy K đi vận chuyển và người nhận số pháo nổ do Nguyễn Duy K vận chuyển, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã tiến hành các biện pháp điều tra, xác minh nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch của các đối tượng trên nên không có căn cứ xử lý.
Bản Cáo trạng số 31/CT-VKS-TPNĐ ngày 14-01-2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định truy tố bị cáo Nguyễn Duy K về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà:
Bị cáo Nguyễn Duy K đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo thành khẩn khai nhận, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình và không khai báo thêm tình tiết mới.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội và tranh luận: Hành vi của bị cáo Nguyễn Duy K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển hàng cấm”, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy K phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy K từ 21 tháng tù đến 24 tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 19-12-2024.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Đề nghị tịch thu tiêu huỷ đối với các mẫu pháo nổ đã thu giữ được của bị cáo được niêm phong, ký hiệu A1 + A2;
- Đề nghị tịch thu tiêu huỷ đối với 01 (một) chiếc bao tải màu đỏ, đã qua sử dụng, kích thước khoảng (92x59) cm được chứa trong 01 (một) túi niêm phong mã số: PS2 - 2127828;
- Đề nghị tịch thu tiêu huỷ 01 (một) sim điện thoại số 0855.350.xxx mặt sau sim có các dãy số 89840; 20001; 16760; 50121 được chứa trong 01 (một) túi niêm phong mã số: NS4 – 23078294.
- Đề nghị tịch thu sung quỹ đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động đã qua sử dụng, màu xanh, nhãn hiệu Vsmart, có số IMEI 1: 356743101391873, IMEI 2: 356743101391881 được chứa trong 01 (một) túi niêm phong mã số: PS3 - 2151484; và số tiền 1.200.000 đồng, bao gồm 06 (sáu) tờ tiền Việt Nam, mệnh giá mỗi tờ 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) được niêm phong 01 gói niêm phong mã số: NS3 - 2145174.
- Đề nghị trả lại 01 (một) chiếc điện thoại di động đã qua sử dụng, màu xanh, nhãn hiệu POCO, có số IMEI 1: 868244077545221, IMEI 2: 51279/64SD05425 được chứa trong 01 (một) túi niêm phong mã số: NS2 - 2125705; 01 (một) sim điện thoại số 0904.813.xxx mặt sau sim có các dãy số 8401; 2408; 1218; 2514 được chứa trong 01 (một) túi niêm phong mã số: NS4 – 23078295 và 01 (một) chiếc xe máy, kiểu dáng xe Dream, màu nâu, biển kiểm soát: 29M9-1232, số khung: LWAXCGL 32YA000006829, số máy: LC150FMG01063629, tình trạng đã qua sử dụng cho bà Phạm Thị M.
Án phí: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà không có sự mâu thuẫn với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, bao gồm: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 19-12-2024; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ ngày 19-12-2024; các bản Kết luận giám định số 139/KL-KTHS ngày 24-12-2024; số 118/KL-KTHS ngày 27-12-2024 và số 103/KL-KTHS ngày 31-12-2024 của Phòng K2 Công an tỉnh N; lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 19/12/2024, tại khu vực ngã tư đường T đường G, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định, Nguyễn Duy K có hành vi vận chuyển 9,041 kg pháo nổ (loại pháo hoa nổ) để lấy tiền công thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Duy K là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh một số hàng cấm trong đó có các loại pháo nổ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi vận chuyển pháo hoa nổ của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Tổng khối lượng pháo nổ mà bị cáo vận chuyển là 9,041 kg. Vì vậy, bị cáo Nguyễn Duy K đã phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.
[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
[3.1] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì bị cáo Nguyễn Duy K đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên bị cáo sẽ được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[3.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Duy K có một tiền án chưa được xoá án tích mà đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội mới. Do đó, bị cáo K bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[4] Về hình phạt:
Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Duy K là nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đối với an ninh trật tự trên địa bàn thành phố N; nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm mà bị cáo thực hiện, mới có tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục và nâng cao hiệu quả của công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm.
[5] Về hình phạt bổ sung:
Xét thấy bị cáo Nguyễn Duy K không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử sẽ không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
- Đối với số pháo nổ đã thu giữ được của bị cáo là vật cấm lưu hành nên sẽ tịch thu tiêu huỷ;
- Đối với 01 (một) chiếc bao tải đỏ, đã qua sử dụng, kích thước khoảng (92x59) cm được chứa trong 01 (một) túi niêm phong mã số: PS2-2127828; 01 (một) sim điện thoại số 0855.350.xxx mặt sau sim có các dãy số 89840; 20001; 16760; 50121 được chứa trong 01 (một) túi niêm phong mã số: NS4-23078294 không còn giá trị sử dụng nên sẽ tịch thu tiêu huỷ;
- Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động đã qua sử dụng, màu xanh, nhãn hiệu Vsmart, có số IMEI 1: 356743101391873, IMEI 2: 356743101391881 là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội; và 06 (sáu) tờ tiền Việt Nam, mệnh giá mỗi tờ 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) được niêm phong 01 gói niêm phong mã số: NS3-2145174 là số tiền bị cáo có được do phạm tội nên sẽ tịch thu sung quỹ;
- Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động đã qua sử dụng, màu xanh, nhãn hiệu POCO, có số IMEI 1: 868244077545221, IMEI 2: 51279/64SD05425 cùng với 01 (một) sim điện thoại số 0904.813.xxx mặt sau sim có các dãy số 8401; 2408; 1218; 2514 và 01 (một) chiếc xe máy, kiểu dáng xe Dream, màu nâu, biển kiểm soát: 29M9-1232, số khung: LWAXCGL 32YA000006829, số máy: LC150FMG01063629, tình trạng đã qua sử dụng là tài sản của của bà Phạm Thị M (mẹ đẻ của bị cáo K). Bà M không biết việc K sử dụng chiếc xe máy và chiếc điện thoại trên đi vận chuyển pháo nổ nên sẽ trả lại cho bà M.
[7] Về các vấn đề khác trong vụ án:
Đối với người đàn ông tên “T1” rủ Nguyễn Duy K đi vận chuyển pháo nổ người đàn ông đã giao túi pháo nổ cho Nguyễn Duy K đi vận chuyển và người nhận số pháo nổ do Nguyễn Duy K vận chuyển, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã tiến hành các biện pháp điều tra, xác minh nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch của các đối tượng trên nên không có căn cứ xử lý.
[8] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Duy K bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy K (tên gọi khác: Nguyễn Văn K1) phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
- Xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu huỷ 04 (bốn) giàn pháo nổ (loại pháo hoa nổ), mỗi giàn có kích thước (15x15x14,5) cm, bên ngoài được bọc giấy nhiều màu sắc, trên vật có dòng chữ “JIAXINGCAIWANG” được chứa trong 01 (một) thùng giấy cát-tông, có kích thước khoảng (45x34x33) cm, tại các mép của nắp thùng có dán giấy niêm phong theo quy định, đã trích lại giám định 02 quả/giàn, phục vụ công tác giám định (Ký hiệu A1) và 02 (hai) giàn pháo nổ (loại pháo hoa nổ), mỗi giàn có kích thước (15x15x14,5) cm, bên ngoài được bọc giấy nhiều màu sắc, trên vật có dòng chữ “CAIFUZHIXING” được chứa trong 01 (một) thùng giấy cát-tông, có kích thước khoảng (40x27x21) cm, tại các mép của nắp thùng có dán giấy niêm phong theo quy định, đã trích lại giám định 02 quả/giàn, phục vụ công tác giám định (Ký hiệu A2).
- Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) chiếc bao tải màu đỏ, đã qua sử dụng, kích thước khoảng (92x59) cm được chứa trong 01 (một) túi niêm phong mã số: PS2 – 2127828.
- Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) sim điện thoại số 0855.350.xxx mặt sau sim có các dãy số 89840; 20001; 16760; 50121 được chứa trong 01 (một) túi niêm phong mã số: NS4-23078294.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động đã qua sử dụng, màu xanh, nhãn hiệu Vsmart, có số IMEI 1: 356743101391873, IMEI 2: 356743101391881 được chứa trong 01 (một) túi niêm phong mã số: PS3-2151484.
- Trả lại cho bà Phạm Thị M 01 (một) chiếc điện thoại di động đã qua sử dụng, màu xanh, nhãn hiệu POCO, có số IMEI 1: 868244077545221, IMEI 2: 51279/64SD05425 được chứa trong 01 (một) túi niêm phong mã số: NS2-2125705; 01 (một) sim điện thoại số 0904.813.xxx mặt sau sim có các dãy số 8401; 2408; 1218; 2514 được chứa trong 01 (một) túi niêm phong mã số: NS4-23078295 và 01 (một) chiếc xe máy, kiểu dáng xe Dream, màu nâu, biển kiểm soát: 29M9-1232, số khung: LWAXCGL 32YA000006829, số máy: LC150FMG01063629.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 06 (sáu) tờ tiền Việt Nam, mệnh giá mỗi tờ 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) được niêm phong 01 gói niêm phong mã số: NS3-2145174.
- Án phí hình sự sơ thẩm:
- Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, sửa đổi năm 2017;
- Căn cứ các Điều 23, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Quyền kháng cáo:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 53 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy K 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19-12-2024.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
(Vật chứng có đặc điểm, chủng loại và được lưu giữ tại kho vật chứng thuộc Công an thành phố N theo lệnh nhập số 15/LNK-ĐCSKT ngày 05-01-2025 và Phiếu nhập kho vật chứng số 15, ngày 09-01-2025 của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố N).
(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: 87/YCN/25 ngày 21-01-2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định).
(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: 88/YCN/25 ngày 21-01-2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định).
Bị cáo Nguyễn Duy K phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Duy K được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị hại, bị cáo có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Bang |
Bản án số 26/2025/HS-ST ngày 17/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về vận chuyển hàng cấm
- Số bản án: 26/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vận chuyển hàng cấm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy K (tên gọi khác: Nguyễn Văn K) phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 53 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy K 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19-12-2024.
