Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẾN CẦU

TỈNH TÂY NINH

Bản án số: 26/2025/HS-ST

Ngày 14-4-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lâm Thúy Liễu

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Thiện Khiêm

Bà Trần Thị Lãm

- Thư ký phiên tòa: Ông Vương Quốc Dũng là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Nhiều - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2025/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Dương Quốc C, sinh ngày 07 tháng 4 năm 1989 tại Tây Ninh; nơi cư trú: ấp C, xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp không có; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Tiến T và bà Phan Thị Ẩ; bị cáo có vợ và 01 người con; tiền án, tiền sự: không có.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/01/2025, chuyển tạm giam từ ngày 25/01/2025 đến ngày 11/02/2025 thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Thanh T1, sinh ngày 01 tháng 11 năm 1985 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: ấp B, xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Đỗ Thị N; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không có; nhân thân:

  • - Ngày 10/02/2022, bị Công an xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 29/QĐ-XPHC về hành vi đánh bạc, phạt số tiền 1.500.000 đồng, nộp phạt ngày 08/4/2022 (đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính);
  • - Ngày 22/9/2023, bị Công an xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 57/QĐ-XPHC về hành vi đánh bạc, phạt số tiền 1.500.000 đồng, nộp phạt ngày 02/10/2023 (đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính).

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/01/2025, chuyển tạm giam từ ngày 25/01/2025 đến ngày 11/02/2025 thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3. Nguyễn Văn H1 (V), sinh ngày 23 tháng 01 năm 1977 tại tỉnh Tây Ninh; HKTT: ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; chỗ ở hiện nay: ấp B, xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K (chết) và bà Huỳnh Thị K1 (chết); bị cáo có vợ và 02 người con; tiền án, tiền sự: không có; nhân thân:

  • - Ngày 25/3/2016, bị Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, xử phạt 02 năm tù về tội “Buôn lậu” tại bản án số 17/2016/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/5/2017, nộp án phí 200.000 đồng và nộp số tiền 1.080.000 đồng sung quỹ Nhà nước xong vào ngày 17/8/2016 (đã được xóa án tích);
  • - Ngày 10/02/2022, bị Công an xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 30/QĐ-XPHC về hành vi đánh bạc, phạt số tiền 1.500.000 đồng, nộp phạt ngày 08/4/2022 (đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính).

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/02/2025 cho đến khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

4. Vũ Thị Thanh N1, sinh ngày 16 tháng 3 năm 1978 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: ấp B, xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: nội trợ; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Thành T2 và bà Lê Thị N2; bị cáo có chồng và 02 người con; tiền án, tiền sự: không có; nhân thân: ngày 24/12/2021, bị Công an xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 10/QĐ-XPHC về hành vi tụ tập nhiều người ở nơi công cộng gây mất an ninh trật tự, phạt số tiền 750.000 đồng, nộp phạt ngày 27/01/2022 (đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính).

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/01/2025 cho đến ngày 25/01/2025 thì bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 25/01/2025 cho đến khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

5. Huỳnh Thị C1, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1978 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: ấp B, xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn R và bà Trần Thị R1; bị cáo có chồng và 03 người con; tiền án, tiền sự: không có; nhân thân: ngày 22/9/2023, bị Công an xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 58/QĐ-VPHC về hành vi đánh bạc, phạt số tiền 1.500.000 đồng, nộp phạt ngày 02/10/2023 (đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính).

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/02/2025 cho đến khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 19/01/2025, Dương Quốc C mang theo số tiền 5.025.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 đến quán nước giải khát của Huỳnh Thị C1 tại ấp B, xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh uống nước. Tại đây, C xin mật khẩu Wifi để sử dụng điện thoại di động mở trang mạng bài Baccarat, mục đích đánh bạc thắng thua bằng tiền, thì C1 đồng ý cho mật khẩu W, dùng bàn ghế trong quán nước cho C ngồi để chơi đánh bạc và bán nước cho C cùng những người chơi đánh bạc. Cách thức chơi bài Baccarat là mỗi ván ra 04 lá bài gồm 02 lá đỏ và 02 lá xanh, người chơi đặt cược bên đỏ hoặc xanh, khi 04 lá bài mở ra trên màn hình điện thoại, tổng số điểm (nút bài) bên nào lớn hơn thì thắng. C làm cái cho Nguyễn Thanh T1, Vũ Thị Thanh N1, Nguyễn Văn H1 và 01 người đàn ông không rõ lai lịch tham gia đánh bạc. Đến khoảng 13 giờ 10 phút cùng ngày, thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang, H1 và người đàn ông không rõ lai lịch bỏ chạy thoát, sau khi vận động, H1 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B làm việc và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Thu giữ tổng số tiền 12.695.000 đồng của những người tham gia đánh bạc, trong đó: tiền thu trên chiếu bạc là 1.050.000 đồng; tiền thu trong người của các đối tượng dùng để đánh bạc là 11.645.000 đồng, cụ thể như sau:

  • + Dương Quốc C mang theo số tiền 5.025.000 đồng, làm cái khoảng 20 ván (có khi ván bài quay không có người đặt cược), mỗi ván mỗi người chơi đặt cược số tiền từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng, thu giữ số tiền 5.075.000 đồng.
  • + Nguyễn Thanh T1 mang theo số tiền 6.100.000 đồng, đặt 03 ván, mỗi ván đặt số tiền 100.000 đồng, thua 100.000 đồng, thu giữ số tiền 6.000.000 đồng.
  • + Nguyễn Văn H1 mang theo số tiền 350.000 đồng, đặt 03 ván, mỗi ván đặt số tiền 50.000 đồng, thắng 150.000 đồng, giao nộp số tiền 500.000 đồng.
  • + Vũ Thị Thanh N1 mang theo số tiền 120.000 đồng, đặt 01 ván thua số tiền 50.000 đồng, thu giữ số tiền 70.000 đồng.

* Tài liệu, đồ vật thu giữ: tiền Việt Nam 12.695.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12, màu xanh, số imei 1: 35270413492253 (đã qua sử dụng).

Tại Cáo trạng số 24/CT-VKSBC ngày 28 tháng 02 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu đã truy tố các bị cáo Dương Quốc C, Nguyễn Thanh T1, Nguyễn Văn H1, Vũ Thị Thanh N1, Huỳnh Thị C1 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân trong phần tranh luận giữ quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh trên, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Căn cứ khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 35; Điều 38, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP: xử phạt bị cáo Dương Quốc C từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định. Phạt bổ sung số tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
  • - Căn cứ khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 35; Điều 38; Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP: xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T1 từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định. Phạt bổ sung số tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
  • - Căn cứ khoản 1, 3 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35; Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP: xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H1 từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định. Phạt bổ sung số tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
  • - Căn cứ khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 35; Điều 38; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP: xử phạt bị cáo Vũ Thị Thanh N1 từ 09 tháng đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định. Phạt bổ sung số tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.
  • - Căn cứ khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 35; Điều 38; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP: xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Cảm T3 09 tháng đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định. Phạt bổ sung số tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.
  • Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 12.695.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12.

Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Lời nói sau cùng của bị cáo:

Bị cáo Dương Quốc C: bị cáo hối hận, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo về với gia đình.

Bị cáo Nguyễn Thanh T1: bị cáo hối hận, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Bị cáo Nguyễn Văn H1: bị cáo hối hận, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Bị cáo Vũ Thị Thanh N1: bị cáo hối hận, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Bị cáo Huỳnh Thị C1: bị cáo biết lỗi, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, lời khai người chứng kiến và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở kết luận: vào lúc 13 giờ 10 phút ngày 19/01/2025, tại quán nước của Huỳnh Thị C1 thuộc ấp B, xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh, Huỳnh Thị C1 đã sử dụng địa điểm do mình quản lý, cung cấp mạng Internet và bàn ghế phục vụ cho Dương Quốc C dùng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 mở trang mạng bài Baccarat trực tuyến để làm cái cho Nguyễn Thanh T1, Nguyễn Văn H1, Vũ Thị Thanh N1 trực tiếp tham gia đánh bạc được thua bằng tiền với tổng số tiền đánh bạc là 12.695.000 đồng thì bị bắt quả tang. Do đó, có căn cứ xác định các bị cáo Dương Quốc C, Nguyễn Thanh T1, Nguyễn Văn H1, Vũ Thị Thanh N1, Huỳnh Thị C1 phạm tội "Đánh bạc" theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Như vậy, Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là phù hợp, đúng quy định pháp luật.

[3] Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng được nhà nước bảo vệ, đồng thời làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương nên cần có mức án tương xứng với hành vi phạm tội.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo C thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có cha là thương binh hạng A là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo T1, N1, C1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Hoàng thành K2 khai báo, ăn năn hối cải; có thời gian tham gia đội tuần tra nhân dân tại địa phương là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Xem xét tính chất, vai trò, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo:

[6.1] Bị cáo C là người khởi xướng, chủ động chuẩn bị phương tiện để đánh bạc, lựa chọn cách thức đánh bạc và đứng ra làm cái nên hành vi của bị cáo có tính chất nguy hiểm hơn các bị cáo khác.

[6.2] Các bị cáo còn lại phải chịu trách nhiệm tương ứng với số tiền đem theo dùng để đánh bạc và số tiền đã đặt cược. Riêng bị cáo C1, biết các bị cáo khác đánh bạc nhưng bị cáo vẫn cung cấp mạng Internet, sử dụng địa điểm do mình quản lý làm nơi thực hiện việc đánh bạc cho 05 người, với số tiền đánh bạc dưới 20.000.000 đồng để bán nước trục lợi nên có vai trò đồng phạm giúp sức.

[6.3] Xét thấy số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc không lớn; các bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có nơi cư trú rõ ràng; bị cáo C có nhân thân tốt, các bị cáo còn lại tuy có nhân thân xấu nhưng đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, đã được xóa án tích mà xét tính chất, mức độ của lần phạm tội này là thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; các bị cáo không thuộc những trường hợp không cho hưởng án treo. Do đó, không cần thiết cách ly các bị cáo khỏi xã hội mà cho hưởng án treo vẫn có khả năng tự cải tạo, không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

[7] Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12, màu xanh, số imei 1: 35270413492253 (đã qua sử dụng): là tài sản của bị cáo C dùng làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với tiền Việt Nam 12.695.000 đồng: là tiền dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

[8] Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: các bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[9] Đối với người đàn ông tham gia đánh bạc, hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch, khi nào làm việc được xử lý sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 35; Điều 38, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt bị cáo Dương Quốc C 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 14/4/2025) về tội “Đánh bạc”.

    Về hình phạt bổ sung: phạt bổ sung bị cáo Dương Quốc C số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).

  2. Căn cứ khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 35; Điều 38; Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T1 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 14/4/2025) về tội “Đánh bạc”.

    Về hình phạt bổ sung: phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thanh T1 số tiền 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng).

  3. Căn cứ khoản 1, 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 35; Điều 38; Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H1 (V) 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 14/4/2025) về tội “Đánh bạc”.

    Về hình phạt bổ sung: phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Văn H1 (V) số tiền 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng).

  4. Căn cứ vào khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 35; Điều 38; Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt bị cáo Vũ Thị Thanh N1 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 14/4/2025) về tội “Đánh bạc”.

    Về hình phạt bổ sung: phạt bổ sung bị cáo Vũ Thị Thanh N1 số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).

  5. Căn cứ vào khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 35; Điều 38; Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị C1 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 14/4/2025) về tội “Đánh bạc”.

    Về hình phạt bổ sung: phạt bổ sung bị cáo Huỳnh Thị C1 số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).

6. Giao các bị cáo Dương Quốc C, Nguyễn Thanh T1, Nguyễn Văn H1, Vũ Thị Thanh N1, Huỳnh Thị C1 cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người được hưởng án treo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người được hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

7. Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12, màu xanh, số imei 1: 35270413492253 (đã qua sử dụng) và tiền Việt Nam 12.695.000 đồng (mười hai triệu sáu trăm chín mươi lăm nghìn đồng).

(Vật chứng trên hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/02/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Cầu và biên lai thu tiền số 0005849 ngày 26/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh).

8. Về án phí: các bị cáo Dương Quốc C, Nguyễn Thanh T1, Nguyễn Văn H1, Vũ Thị Thanh N1, Huỳnh Thị C1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

9. Các bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND huyện Bến Cầu;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - Công an tỉnh Tây Ninh;
  • - Chi Cục THADS huyện Bến Cầu;
  • - TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - UBND xã;
  • - Bộ phận thi hành án;
  • - Lưu: Hồ sơ, tập án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lâm Thúy Liễu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2025/HS-ST ngày 14/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU TỈNH TÂY NINH về hình sự (đánh bạc)

  • Số bản án: 26/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger