|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 26/2025/HS-ST
Ngày 13 - 6- 2025
NHÂN DANH
NỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Bà Trần Thị Lệ T
- Các hội thẩm nhân dân :
- Ông Vi Văn H;
- Ông Trần Quang H1.
Th ký toà án ghi biên bản phiên toà : Ông Đặng Trần H2 – Cán bộ Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ .
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã P tham gia phiên toà: Bà Phan Tường L – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ - tỉnh Phú Thọ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 22/2025/HSST ngày 23/5/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2025/QĐXXST-HS ngày 30/5/2025 đối với bị cáo:
Đặng Văn H3; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 01/7/1987, tại huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; Nơi ĐKHKTT: Khu Đ, xã C, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 07/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Đoàn thể: Không. Con ông: Đặng Văn T1, sinh năm: 1961; Con bà: Phùng Thị Dung C, sinh năm: 1962;
Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại bản án HSST số 60 ngày 29/11/2010, Toà án nhân dân huyện Đoan Hùng xử phạt H3 24 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam là ngày 23/8/2010. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/5/2012, nộp xong án phí HSST tháng 01/2011.
- Tại bản án HSST số 37 ngày 09/8/2013, Toà án nhân dân huyện Đoan Hùng xử phạt H3 12 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam là ngày 20/5/2013. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/5/2014, nộp xong án phí HSST tháng 11/2013.
- Tại bản án HSST số 43 ngày 31/7/2015, Toà án nhân dân huyện Đoan Hùng xử phạt H3 30 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam là ngày 17/4/2015. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/9/2017, nộp xong án phí HSST và tiền truy thu tháng 9/2015.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 20/3/2025 đến ngày 26/3/2025 chuyển tạm giam; hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực thị xã P. Hôm nay có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại: Ông Nhâm Văn P, sinh năm 1977. (vắng mặt).
Địa chỉ : Khu G, xã K, huyện T, tỉnh Phú Thọ
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Đặng Văn T1, sinh năm 1961. (vắng mặt).
Địa chỉ : Khu Đ, xã C, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.
- Anh Hoàng Văn P1, sinh năm: 1991, (vắng mặt).
Địa chỉ: Khu G, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 16/3/2025, do cần tiền chi tiêu cá nhân, Đặng Văn H3, sinh năm: 1987, trú tại khu Đ, xã C, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ (đang thuê phòng trọ của ông Trần Thanh N, sinh năm: 1965 ở khu H, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ) đi bộ một mình lang thang trên đường thuộc khu H, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ tìm kiếm có hộ dân nào sơ hở tài sản để trộm cắp. Khi đi đến lán trông coi công trình của ông Nhâm Văn P, sinh năm 1977, trú tại khu G, xã K, huyện T, tỉnh Phú Thọ (đang trông coi công trình xây dựng nhà cho chị Nhâm Thị P2, sinh năm: 1986 ở khu H, xã H, thị xã P), H3 quan sát không thấy có người nên đi vào trong lán lục tìm tài sản trộm cắp được 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A25 màu xanh tím than, bên trong lắp 02 thẻ sim số 0989492372, 0972435058 và 01 chiếc ví giả da màu đen cất vào trong túi quần của mình rồi đi ra ngoài để tẩu thoát. Trên đường đi, H3 mở ví ra kiểm tra thấy bên trong ví có 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng B2 mang tên Nhâm Văn P và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số 19A - 494.13 mang tên Bùi Thị H4 cùng số tiền ngân hàng N2 là 1.100.000 đồng (gồm 05 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, 02 tờ tiền 50.000 đồng). H3 tháo 02 thẻ sim điện thoại vứt ở ven đường (không xác định được vị trí cụ thể), rồi đi bộ đến cửa hàng Đ thuộc khu G, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ, do anh Hoàng Văn P1, sinh năm: 1991, trú tại khu G, xã H, thị xã P làm chủ, bán chiếc điện thoại di động vừa trộm cắp được cho anh P1 được số tiền là 2.100.000 đồng. Trên đường về, H3 mở ví của ông P lấy giấy phép lái xe và giấy đăng ký xe ô tô biển số 19A - 494.13 vứt ở ven đường gần gầm cầu vượt C - Lào Cai thuộc khu H, xã H, thị xã P. Khi về đến phòng trọ, H3 lấy hết số tiền bên trong ví rồi giấu chiếc ví này dưới đệm giường. Đối với số tiền 1.100.000 đồng H3 trộm cắp được và số tiền 2.100.000 đồng Hậu bán chiếc điện thoại do trộm cắp được mà có Hậu đã tiêu xài cá nhân hết.
Sau khi phát hiện bị mất tài sản, ông P có đơn trình báo đến Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P đề nghị làm rõ đối tượng trộm cắp tài sản và xử lý theo quy định pháp luật. Ngày 20/3/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P đã triệu tập làm việc với Đặng Văn H3, H3 đã khai nhận hành vi trộm cắp tài sản như trên và tự nguyện giao nộp trang phục dùng để đi trộm cắp tài sản gồm: 01 quần dài bằng vải màu đen, cũ, 01 áo khoác dài tay bằng vải bò màu xanh, phía trước có in dòng chữ “SEOJIN” màu trắng, cũ, 01 ba lô bằng vải màu đen phía trước có gắn nhãn mác bên trên có in chữ “DENG GAO”, cũ bên trong không có đồ vật, tài sản gì và 01 ví giả da, màu đen, loại ví nằm ngang, có kích thước chiều dài 23,4 cm, chiều cao 9,8 cm, ví cũ, đã qua sử dụng.
Căn cứ lời khai của H3, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P đã xác minh nơi H3 vứt giấy phép lái xe và giấy đăng ký xe ô tô, kết quả thu giữ được 01 giấy phép lái xe số [...] mang tên Nhâm Văn P, sinh ngày: 14/04/1977, nơi cư trú: xã K, huyện T, tỉnh Phú Thọ và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS: 19A - 494.13 mang tên Bùi Thị H4, sinh năm: 1984 trú tại khu G, xã K, huyện T, tỉnh Phú Thọ tại ven đường gầm cầu vượt cao tốc N - Lào Cai thuộc khu H, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ.
Phục vụ công tác điều tra, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đã trưng cầu định giá tài sản đối với các tài sản H5 trộm cắp. Tại bản kết luận định giá tài sản số 12 ngày 25/3/2025, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, Ủy ban nhân dân thị xã P, kết luận: Giá trị chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Galaxy A25 5G, màu xanh tím than, số Sêri R5CWC0QZW4F, số IMEI (khe 1) 350616250688115, IMΕΙ (khe 2) 350960280688111, là 3.066.600 đồng; Giá trị chiếc ví giả da, màu đen là 47.600 đồng.
Như vậy, tổng giá trị tài sản Đặng Văn H3 trộm cắp của ông Nhâm Văn P ngày 16/03/2025 là 4.214.200 đồng, trong đó có 1.100.000 đồng tiền Ngân hàng N2, 01 điện thoại Samsung trị giá 3.066.600 đồng và 01 ví giả da trị giá 47.600 đồng.
Đối với anh Hoàng Văn P1, khi mua chiếc điện thoại di động Galaxy A25 5G của H3 với giá 2.100.000 đồng, anh P1 không biết là tài sản do H3 trộm cắp được mà có, việc mua bán là ngay thẳng, không có thoả thuận, hứa hẹn hay có điều kiện vụ lợi. Anh P1 đã tự nguyện giao nộp lại chiếc điện thoại cho Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P không có căn cứ xử lý anh P1 về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có hay đồng phạm với H3 về hành vi trộm cắp tài sản.
Về xử lý vật chứng, tài sản, đồ vật tạm giữ: Ngày 31/3/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P đã trả lại cho ông N1 Văn Phong chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A25 5G màu xanh, 01 ví giả da, 01 Giấy phép lái xe mang tên ông P và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô mang tên bà H4. Đối với 01 quần dài bằng vải màu đen, cũ, 01 áo khoác dài tay bằng vải bò màu xanh, phía trước có in dòng chữ “SEOJIN” màu trắng, cũ và 01 ba lô bằng vải màu đen phía trước có gắn nhãn mác bên trên có in chữ “DENG GAO”, cũ bên trong không có đồ vật, tài sản gì, hiện đang tiếp tục tạm giữ tại kho vật chứng Công an tỉnh P chờ xử lý.
Về tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Đặng Văn H3 có nhân thân xấu nhưng không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào; quá trình điều tra, truy tố, H3 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tác động gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, Đặng Văn H3 đã tác động gia đình bồi thường cho ông N1 Văn Phong số tiền 1.100.000 đồng và bồi thường cho anh P1 2.100.000 đồng, ông P, anh P1 nhận đủ tiền không yêu cầu H3 phải bồi thường thêm bất kỳ khoản tiền nào khác, đối với 02 thẻ sim điện thoại, ông P tự thuê cấp lại.
Về điều kiện kinh tế: Đặng Văn H3 không có tài sản gì có giá trị.
Tại bản cáo trạng số: 22/CT-VKSTXPT ngày 21/5/2025, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ đã truy tố bị cáo Đặng Văn Hậu về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b,s khoản 1 Điều 51; điều 38 – Bộ luật hình sự, xử phạt Đặng Văn H3 mức án từ 18 tháng đến 24 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 20/3/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 điều 47, điều 48 BLHS, khoản 2, điểm b, khoản 3 Điều 106 BLTTHS:
Xác nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh P đã trả lại cho ông N1 Văn Phong 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A25 5G màu xanh, 01 ví giả da, 01 Giấy phép lái xe mang tên Nhâm Văn P và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô mang tên Bùi Thị H4 là hợp pháp.
Xác nhận ông Đặng Văn T2 – bố bị cáo H3 đã bồi thường thay bị cáo H3 cho ông Nhâm Văn P số tiền 1.100.000đ; trả cho anh Hoàng Văn P1 2.100.000đ là hợp pháp.
Tịch thu để tiêu hủy 01 quần dài bằng vải màu đen, cũ, 01 áo khoác dài tay bằng vải bò màu xanh, phía trước có in dòng chữ “SEOJIN” màu trắng đã cũ và 01 ba lô bằng vải màu đen phía trước có gắn nhãn mác bên trên có in chữ “DENG GAO” đã cũ.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo không có lời tranh luận, bào chữa nào khác và ân hận về hành vi mà bị cáo đã phạm, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với bị cáo:
Tại phiên tòa hôm nay, lời khai nhận tội của bị cáo thể hiện: Khoảng 8 giờ ngày 16/3/2025, tại lán trông công trình thuộc khu H, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Đặng Văn H3 đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của ông Nhâm Văn P với tổng giá trị 4.214.200 đồng, bao gồm: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A25 màu xanh tím than, trị giá 3.066.600 đồng, 01 chiếc ví giả da màu đen trị giá 47.600 đồng và tiền ngân hàng N2 là 1.100.000 đồng. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P đã thu hồi được tài sản trộm cắp trả cho bị hại.
Lời nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra vụ án, lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng vụ án và các tài liệu khác có trong hồ sơ và đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ căn cứ pháp lý kết luận các bị cáo H3 phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1Điều 173 Bộ luật hình sự.
Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ truy tố bị cáo về tội danh cũng như điều luật áp dụng là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3]. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Xét thấy tính chất vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm không lớn cho xã hội, với lỗi cố ý, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Hành vi của bị cáo còn gây mất an ninh trật tự xã hội trên địa bàn. Do vậy cần xử phạt bị cáo với mức hình phạt thật nghiêm minh để bị cáo nhận thức được tính chất nghiêm trọng và hậu quả do hành vi của bị cáo đã gây ra, đồng thời có tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như sau: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Do đó bị cáo được hưởng hai tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết để giáo dục, rèn luyện bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội. Đề xuất của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp, đủ nghiêm để răn đe, giáo dục bị cáo sống tuân thủ pháp luật.
[4]. Về hình phạt bổ sung:
Tại khoản 5 Điều 173 BLHS qui định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét thấy, bị cáo làm nghề lao động tự do, ngoài đồ dùng sinh hoạt thiết yếu, bị cáo không có tài sản giá trị. Vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp với điều kiện thực tế và quy định của pháp luật.
[5]. Về xử lý vật chứng và các tài sản, đồ vật tạm giữ và trách nhiệm dân sự:
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A25 5G màu xanh, 01 ví giả da, 01 Giấy phép lái xe mang tên Nhâm Văn P và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô mang tên Bùi Thị H4, Cơ quan điều tra Công an tỉnh P đã trả lại cho chủ sở hữu là ông P cần xác nhận là hợp pháp.
Đối với số tiền 1.100.000đ, bị cáo trộm cắp của ông P và số tiền 2.100.000đ bị cáo bán điện thoại trộm cắp của ông P cho anh P1, đã được bố đẻ bị cáo là ông Đặng Văn T2 bồi thường thay bị cáo cho ông P và anh P1 cần xác nhận là hợp pháp.
Đối với 01 quần dài bằng vải màu đen, cũ, 01 áo khoác dài tay bằng vải bò màu xanh, phía trước có in dòng chữ “SEOJIN” màu trắng đã cũ và 01 ba lô bằng vải màu đen phía trước có gắn nhãn mác bên trên có in chữ “DENG GAO” đã cũ là tài sản của H3 sử dụng khi đi trộm cắp. Bị cáo không yêu cầu trả lại, tài sản có giá trị sử dụng không lớn tịch thu để tiêu hủy.
[6]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 điều 51, khoản 1 điều 38, khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2, khoản 3 điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Đặng Văn H3 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Đặng Văn H3 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 20/3/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:
Xác nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh P đã trả lại cho ông N1 Văn Phong 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A25 5G màu xanh, 01 ví giả da, 01 Giấy phép lái xe mang tên Nhâm Văn P và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô mang tên Bùi Thị H4 là hợp pháp.
Xác nhận ông Đặng Văn T2 – bố bị cáo H3 đã bồi thường thay bị cáo H3 cho ông Nhâm Văn P số tiền 1.100.000đ; trả cho anh Hoàng Văn P1 2.100.000đ là hợp pháp.
Tịch thu để tiêu hủy 01 quần dài bằng vải màu đen, cũ, 01 áo khoác dài tay bằng vải bò màu xanh, phía trước có in dòng chữ “SEOJIN” màu trắng đã cũ và 01 ba lô bằng vải màu đen phía trước có gắn nhãn mác bên trên có in chữ “DENG GAO” đã cũ. (Các tài sản, đồ vật có đặc điểm theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa được lưu giữ tại kho vật chứng Công an tỉnh P).
Về án phí: Bị cáo Đặng Văn H3 phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm./.
|
Nơi nhận :
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Lệ Thanh |
Bản án số 26/2025/HS-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ về hình sự - trộm cắp tài sản
- Số bản án: 26/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
