Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ LONG MỸ

TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 26/2025/HS-ST

Ngày 13 – 6 – 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Diệu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Âu Cần Đông

2. Ông Lê Văn Qui

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Nhiệm – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu giang tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Bích Thuận - Kiểm sát viên.

Trong ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 26/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2025/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Bùi Phước D, tên gọi khác: D1; sinh ngày 01/01/1996; nơi sinh: tại thị xã L, tỉnh Hậu Giang. Nơi cư trú: ấp D, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang; Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Thanh S và bà Huỳnh Thị N; vợ, con: chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không: Nhân thân: Ngày 10/01/2020, bị Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số: 03/2020/QĐ-TA thời hạn 24 tháng (chấp hành xong ngày 08/8/2021). Bị cáo bị bắt quả tang ngày 09/01/2025, sau đó chuyển sang tạm giữ và tạm giam cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực thị xã L. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

1

2. Trần Thiên T; tên gọi khác: Xì Bo; sinh ngày 26/11/1978; nơi sinh: tại thị xã T, tỉnh An Giang; Nơi đăng ký thường trú: khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện tại: ấp H, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Ngọc N1 và bà Dư Thị Diệu H; C sống như vợ chồng với Hà Ngọc C1, sinh năm 1982 Con: 05 người (Lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2017); tiền án: Không; tiền sự: Không: Bị cáo bị bắt quả tang ngày 09/01/2025, sau đó chuyển sang tạm giữ và tạm giam cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực thị xã L. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Người bào chữa cho bị cáo Trần Thiên T: Ông Huỳnh Cao C2 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh H Địa chỉ: Số B đường N, Phường V, thành phố V, tỉnh Hậu Giang (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Huỳnh Thị N, sinh năm 1969 (có mặt).

Nơi cư trú: Ấp D, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.

2. Ông Bùi Thanh S, sinh năm 1965 (có mặt).

Nơi cư trú: Ấp D, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng hơn 17 giờ ngày 09/01/2025, Trần Thiên T đi làm ở Cầu M thuộc xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang về ghé nhà Bùi Phước D ở ấp D, xã L A để chơi thì thấy D đang nằm ngủ nên T ra về. Về đến nhà một lúc, D gọi điện cho T hỏi “Có gì chơi vui không?” (T hiểu ý D hỏi có ma túy để sử dụng không) thì T một mình điều khiển xe mô tô kiểu dáng Honda Wave màu đỏ của T, mang biển số 95F3 – 4813 lên ngã ba V. Trong quá trình đi đến đoạn công viên thuộc phường T, thị xã L thì T gặp một thanh niên lạ mặt. T nhờ người này liên hệ với một người phụ nữ (không rõ nhân thân, lai lịch) để hỏi mua 150.000 đồng ma túy đá, người này đồng ý bán kêu T điều khiển xe lên Thiền viện T2 ở ngã ba V thuộc khu vực B, phường V, thị xã L, tỉnh Hậu Giang và hướng dẫn T đến trước T1 viện Trúc L lấy bịch nylon được bỏ trong gói thuốc lá nhãn hiệu Jet và kêu T để lại 150.000 đồng vào trong vỏ bao gói thuốc lá. Khi đến trước Thiền viện T, T

2

nhặt vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Jet dưới gốc cây, mở ra thấy bịch ma túy nên T cầm cả gói thuốc lá đem về nhưng không để tiền lại do sợ là ma túy giả. Trên đường về vừa qua cầu G thì T mở bao thuốc lá lấy bịch ma túy cầm trên tay trái, còn vỏ gói thuốc lá vứt xuống sông (không nhớ rõ vị trí ném vỏ gói thuốc lá) và điều khiển xe mô tô về ghé nhà của D. Khi đến nhà D, lúc này D nằm trên võng ở phòng khách, T lấy bịch ma túy đưa cho D. D ra sau nhà lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy cất ở sau nhà ra rồi dùng lưỡi dao lam cắt bịch ma túy và đổ hết vào bộ dụng cụ sử dụng, D nấu ma túy và hút trước một hơi rồi để bộ dụng cụ sử dụng ma túy xuống nền gạch, sau đó T tự cầm bộ dụng cụ sử dụng ma túy để hút. Lúc này D ra phía sau nhà gặp bà Huỳnh Thị N là mẹ ruột của D để xin 100.000 đồng, mục đích để đưa cho T để đi mua ma túy thêm về sử dụng. D đưa 100.000 đồng cho T, T hùn thêm 50.000 đồng. Khi D lên nhà trước thì cả hai truyền ma túy qua lại để hút tiếp tục, mỗi người hút được khoảng 02-03 hơi thì hết ma túy và để bộ dụng cụ sử dụng ma túy trên nền gạch trong góc tường thì bị lực lượng Công an vào bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm:

  • - 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế, phần dưới làm bằng cóc thủy tinh được quấn băng keo đen xung quanh, phần trên làm bằng đầu chai nhựa màu xanh có gắn nắp màu trắng được quấn băng keo màu đen xung quanh, trên nắp có khoét 02 lỗ, 01 lỗ có gắn ống hút nhựa màu trắng dài 25 cm, lỗ còn lại gắn 01 ống thủy tinh (nỏ) dài 11cm, phần phiểu rộng 5cm bên trong có bám dính chất dịch màu đen, đầu còn lại được nối với ống hút nhựa màu trắng dài 8,5 cm.
  • - 01 túi nylon màu trắng được hàn kín 03 đầu, một đầu có gạc viền màu đỏ, kích thước (4,5x4) cm bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy.
  • - 01 túi nylon màu trắng được hàn kín ba đầu, một đầu bị cắt hở kích thước (2,4x1,5) cm bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy.
  • - 01 ống hút bằng nhựa màu trắng dài 6,5 cm, một đầu cắt bằng, một đầu cắt nhọn tại đầu cắt nhọn có dính một ít tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy.
  • - 01 ống hút bằng nhựa màu trắng, 01 đầu được hàn kín 01 đầu cắt nhọn bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy.
  • - 01 ống hút nhựa màu trắng dài 4,5cm, một đầu hàn kín, một đầu được cắt nhọn.

3

  • - 01 cái hột quẹt màu trắng đã bị hỏng, dài 9,5cm phần đầu có kích thước (2x1) cm, phần thân được quấn băng keo màu trắng xanh, phần đầu bị hỏng có gắn một ống giấy bạc màu trắng dài 2,5 cm.
  • - 01 cái hột quẹt bằng nhựa màu đỏ kích thước (2,5x7) cm, phần đầu hột quẹt có gắn kim loại màu vàng đã qua sử dụng.
  • - 01 ống thủy tinh (nỏ) bị vỡ không rõ hình dạng kích thước.
  • - 01 cái lưỡi lam bằng kim loại màu trắng có hai mặt cắt sắc bén kích thước (4,3x2,3) cm đã qua sử dụng.
  • - 01 cây dao bằng kim loại dài 9,5cm, phần rộng nhất 1,2 cm, nhỏ nhất 0,5cm trên dao có nhiều hoa văn đã qua sử dụng.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung S11, màu đen có gắn sim số 0819.680.448. màn hình bị bể vỡ không rõ hình dạng kích thước
  • - 01 cục sạc dự phòng màu xám, kích thước (14x6,5) cm bị phù vỡ có gắn 01 cáp sạc dài 88 cm, 02 đầu cáp sạc có quấn băng keo màu đen.

Đồ vật, tài liệu do Trần Thiên T tự nguyện giao nộp:

  • - Tiền Việt Nam 150.000 đồng, bao gồm một tờ tiền Polyme mệnh giá 50.000 đồng và một tờ tiền Polyme mệnh giá 100.000 đồng.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, loại bàn phím số, số Sê ri 1: 354194104073211, Số sê ri 2: 354194105073210, gắn sim số: 0787907051, đã qua sử dụng.
  • - 01 xe mô tô kiểu dáng Wave màu đỏ, mang biển số 95F3 – 4813, đã qua sử dụng.

Ngày 09/01/2024 Công an thị xã L tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể đối với Bùi Phước D và Trần Thiên T, kết quả: Bùi Phước D và Trần Thiên T đều dương tính với ma túy (Methamphetamine).

Tại Bản kết luận giám định số 20/KL-KTHS ngày 15/01/2025 của phòng K1 Công an tỉnh H kết luận:

  • “- Mẫu ký hiệu M1: tinh thể bám dính bên trong 01 (một) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine (mẩu tinh thể còn quá ít, không xác định được khối lượng).
  • - Mẫu ký hiệu M2: tinh thể bám dính bên trong 01 (một) đoạn ống hút nhựa được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine (mẩu tinh thể còn quá ít, không xác định được khối lượng).

4

  • - Mẫu ký hiệu M3: tinh thể bám dính bên trong 01 (một) đoạn ống hút nhựa được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine (mẩu tinh thể còn quá ít, không xác định được khối lượng).
  • - Mẫu ký hiệu M4: tinh thể bám dính bên trong 01 (một) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine (mẩu tinh thể còn quá ít, không xác định được khối lượng).
  • - Mẫu ký hiệu M5: tinh thể bám dính bên trong 01 (một) dụng cụ thủy tinh được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine (mẩu tinh thể còn quá ít, không xác định được khối lượng).”

Tại cáo trạng số 29/CT-VKS-TXLM ngày 22 tháng 5 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang đã truy tố các bị cáo: Bùi Phước D và Trần Thiên T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Bùi Phước D và Trần Thiên T về tội danh và điều luật như Cáo trạng và đề nghị:

Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 (đối với Trần Thiên T) Điều 51; Điều 17; Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên bố các bị cáo: Bùi Phước D và Trần Thiên T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Thiên T mức án từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 09 tháng tù.

Xử phạt bị cáo Bùi Phước D mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 09/01/2025. Tiếp tục tạm giam các bị cáo Bùi Phước D và Trần Thiên T 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau đây:

  • - 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế, phần dưới làm bằng cóc thủy tinh được quấn băng keo đen xung quanh, phần trên làm bằng đầu chai nhựa màu xanh có gắn nắp màu trắng được quấn băng keo màu đen xung quanh, trên nắp có

5

khoét 02 lỗ, 01 lỗ có gắn ống hút nhựa màu trắng dài 25 cm, lỗ còn lại gắn 01 ống thủy tinh (nỏ) dài 11cm, phần phiểu rộng 5cm bên trong có bám dính chất dịch màu đen, đầu còn lại được nối với ống hút nhựa màu trắng dài 8,5 cm.

  • - 01 túi nylon màu trắng được hàn kín 03 đầu, một đầu có gạc viền màu đỏ, kích thước (4,5x4) cm bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy.
  • - 01 túi nylon màu trắng được hàn kín ba đầu, một đầu bị cắt hở kích thước (2,4x1,5) cm bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy.
  • - 01 ống hút bằng nhựa màu trắng dài 6,5 cm, một đầu cắt bằng, một đầu cắt nhọn tại đầu cắt nhọn có dính một ít tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy.
  • - 01 ống hút bằng nhựa màu trắng, 01 đầu được hàn kín 01 đầu cắt nhọn bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy.
  • - 01 ống hút nhựa màu trắng dài 4,5cm, một đầu hàn kín, một đầu được cắt nhọn.
  • - 01 cái hột quẹt màu trắng đã bị hỏng, dài 9,5cm phần đầu có kích thước (2x1) cm, phần thân được quấn băng keo màu trắng xanh, phần đầu bị hỏng có gắn một ống giấy bạc màu trắng dài 2,5 cm.
  • - 01 cái hột quẹt bằng nhựa màu đỏ kích thước (2,5x7) cm, phần đầu hột quẹt có gắn kim loại màu vàng đã qua sử dụng.
  • - 01 ống thủy tinh (nỏ) bị vỡ không rõ hình dạng kích thước.
  • - 01 cái lưỡi lam bằng kim loại màu trắng có hai mặt cắt sắc bén kích thước (4,3x2,3) cm đã qua sử dụng.
  • - 01 cây dao bằng kim loại dài 9,5cm, phần rộng nhất 1,2 cm, nhỏ nhất 0,5cm trên dao có nhiều hoa văn đã qua sử dụng.

Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 cục sạc dự phòng màu xám, kích thước (14x6,5) cm bị phù vỡ có gắn 01 cáp sạc dài 88cm, 02 đầu cáp sạc có quấn băng keo màu đen.

Tịch thu sung quỹ nhà nước:

  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung S11, màu đen có gắn sim số 0819.680.448, màn hình bị bể vỡ không rõ hình dạng kích thước.
  • - Tiền Việt Nam 150.000đồng.
  • - 01 xe mô tô kiểu dáng Wave màu đỏ, mang biển số 95F3 – 4813, đã qua sử dụng.

6

- Trả lại cho bị cáo Trần Thiên T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, loại bàn phím số, số Sê ri 1: 354194104073211, Số sê ri 2: 354194105073210, gắn sim số: 0787907051, đã qua sử dụng.

Về án phí: bị cáo Bùi Phước D phải chịu án phí theo quy định pháp luật. Miễn án phí cho bị cáo Trần Thiên T.

Người bào chữa cho bị cáo Trần Thiên T trình bày ý kiến tranh luận: Thống nhất quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ ở khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự với lý do bị cáo T là lao động chính, có trình độ học vấn thấp, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, có sổ hộ nghèo, nhân thân không có tiền án tiền sự và đề nghị xử phạt bị cáo T mức thấp nhất của khung hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị. Miễn án phí cho bị cáo T.

Các bị cáo không trình bày ý kiến tranh luận chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Việc khởi tố, điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra; việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Về nội dung giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án chứng minh được: Vào khoảng hơn 17 giờ ngày 09/01/2025, sau khi đi làm về Trần Thiên T ghé nhà của Bùi Phước D, ở ấp D, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang chơi. Khi đến nhà D, T thấy D đang ngủ nên T ra về. Về đến nhà một lúc, D gọi điện cho T hỏi “Có gì chơi vui không?” (T hiểu ý D hỏi có ma túy để sử dụng không) thì T một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ, biển số 95F3 – 4813 lên ngã ba V, chủ động tìm mua 150.000đồng ma tuý đem đến phòng khách nhà D, T lấy bịch ma túy đưa cho D. D ra sau nhà lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy, rồi dùng lưỡi dao lam cắt bịch ma túy và đổ hết vào bộ dụng cụ sử dụng, D nấu ma túy và hút trước một hơi rồi để bộ dụng cụ sử dụng ma túy xuống nền gạch, sau đó T tự cầm bộ dụng cụ sử dụng ma túy để hút. Lúc này D ra phía sau nhà gặp bà Huỳnh Thị N là mẹ ruột của D để xin 100.000 đồng, mục đích để đưa cho T để đi mua ma túy thêm về sử dụng. D đưa 100.000đồng cho T, T hùn thêm 50.000 đồng. Khi D lên nhà trước thì cả hai truyền ma túy qua lại để hút tiếp tục, mỗi người hút được khoảng 02-03 hơi thì hết ma túy và để bộ

7

dụng cụ sử dụng ma túy trên nền gạch trong góc tường thì bị lực lượng Công an vào bắt quả tang cùng các vật chứng.

[3] Tại Bản kết luận giám định số: 20/KL-KTHS ngày 15/01/2025 của phòng K1 Công an tỉnh H kết luận:

  • “- Mẫu ký hiệu M1: tinh thể bám dính bên trong 01 (một) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine.
  • - Mẫu ký hiệu M2: tinh thể bám dính bên trong 01 (một) đoạn ống hút nhựa được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine.
  • - Mẫu ký hiệu M3: tinh thể bám dính bên trong 01 (một) đoạn ống hút nhựa được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine.
  • - Mẫu ký hiệu M4: tinh thể bám dính bên trong 01 (một) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine.
  • - Mẫu ký hiệu M5: tinh thể bám dính bên trong 01 (một) dụng cụ thủy tinh được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine.
  • (Các mẩu tinh thể nêu trên còn quá ít, đều không xác định được khối lượng).”

[4] Quá trình điều tra, chứng minh được: Bùi Phước D là người chủ mưu, gợi ý cho T về việc thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, dùng nơi ở thuộc quyền quản lý sử dụng của mình để tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, cung cấp dụng cụ sử dụng ma tuý, cắt ma tuý bỏ vào trong nỏ, nấu ma tuý, thay phiên nhau sử dụng ma tuý, thống nhất ý chí hùn tiền thêm 100.000đồng để chuẩn bị tổ chức sử dụng ma tuý lần thứ hai chưa kịp thực hiện thì bị bắt quả tang.

[5] Đối với bị cáo Trần Thiên T tham gia vụ án này với vai trò đồng phạm: Sau khi thống nhất ý chí với D, T chủ động tìm nguồn mua ma tuý với số tiền 150.000đồng, cung cấp cho D để tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, nấu ma tuý và truyền tay cho Bùi Phước D cùng sử dụng. Thống nhất ý chí hùn thêm 50.000đồng để tiếp tục tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nhưng chưa kịp thực hiện thì bị bắt quả tang.

[6] Hành vi của Bùi Phước D và Trần Thiên T đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” được quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự. Do đó Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ đã truy tố các

8

bị cáo Bùi Phước D, Trần Thiên T với tội danh và Điều luật như đã nêu trên là có căn cứ đúng người đúng tội.

[7] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi của các bị cáo Bùi Phước D, Trần Thiên T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của nhà nước đối với chất ma tuý. Việc sử dụng chất ma tuý là chất gây nghiện, gây ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ của người sử dụng, là tệ nạn xã hội, là nguyên nhân dẫn đến phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Các bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, nên cần có mức án nghiêm, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, nhằm giáo dục các bị cáo thành công dân có ích cho xã hội và nhằm răn đe phòng và ngừa tội phạm nói chung.

[8] Trong vụ án này, bị cáo Bùi Phước D là người chủ mưu trong việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, dùng nhà thuộc quyền sử dụng của gia đình bị cáo, cung cấp bộ dụng cụ sử dụng ma tuý, cắt bỏ ma tuý vào nỏ, nấu ma tuý, trực tiếp sử dụng và đưa cho T sử dụng cùng, bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 24 tháng nhưng bị cáo không ăn năn hối cải, tiếp tục phạm tội nên có mức án cao hơn bị cáo T. Đối với Trần Thiên T tham gia với vai trò đồng phạm, có vai trò thấp hơn bị cáo D, T là người trực tiếp tìm nguồn ma tuý mua về cung cấp cho D tổ chức, cùng thực hiện các hành vi tổ chức đưa trái phép ma tuý vào cơ thể, cùng thống nhất ý chí hùn thêm tiền để tiếp tục tổ chức sử dụng ma tuý trái phép nhưng chưa thực hiện được thì cả hai bị bắt quả tang, nên bị cáo có mức án thấp hơn bị cáo D.

[9] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo thành khẩn khai báo thừa nhận hành vi phạm tội, tỏ ra ăn năn hối cải nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo. Đối với bị cáo Trần Thiên T có hoàn cảnh gia đình khó khăn, có sổ hộ nghèo, bị cáo là lao động chính trong gia đình, nhân thân không có tiền án tiền sự, trình độ học vấn thấp nên áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

[10] Đối với người phụ nữ mà T khai nhận đã mua ma túy để sử dụng và người nam thanh niên T khai nhận nhờ liên lạc để hỏi mua ma túy, chưa xác định được nhân thân và lai lịch nên chưa có đủ cơ sở để điều tra làm rõ. Kiến nghị Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, khi có đủ căn cứ thì xử lý theo quy định.

9

[11] Đối với ông Bùi Thanh S và bà Huỳnh Thị N là cha mẹ ruột của Bùi Phước D, mặc dù D và T có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà của ông S và bà N. Tuy nhiên, khi phát hiện D và T sử dụng ma túy thì ông S đã trình báo công an, ông S bà N đã chủ động phối hợp cung cấp thông tin cho cơ quan Công an, do đó không xem xét xử lý đối với ông S và bà N là có căn cứ.

[12] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý như sau:

[12.1] Đối với các vật chứng là ma tuý, công cụ, phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội cần tịch thu tiêu hủy bao gồm:

  • - 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế, phần dưới làm bằng cóc thủy tinh được quấn băng keo đen xung quanh, phần trên làm bằng đầu chai nhựa màu xanh có gắn nắp màu trắng được quấn băng keo màu đen xung quanh, trên nắp có khoét 02 lỗ, 01 lỗ có gắn ống hút nhựa màu trắng dài 25cm và một ống hút nhựa màu trắng dài 8,5cm.
  • - Dụng cụ thủy tinh và vỏ bao gói được niêm phong có hình dấu tròn màu đỏ của phòng K1 và chữ ký ghi “người chứng kiến” tên Đặng Thị Phương L1 và “người niêm phong” tên Phan Hoàng K.
  • - 01 ống hút nhựa màu trắng dài 4,5 cm, một đầu hàn kín, một đầu cắt nhọn.
  • - 01 cái hột quẹt màu trắng đã bị hỏng, dài 9,5 cm phần đầu có kích thước (2x1) cm, phần thân được quấn băng keo màu trắng xanh, phần đầu bị hỏng có gắn một ống giấy bạc màu trắng dài 2,5 cm.
  • - 01 cái hột quẹt bằng nhựa màu đỏ kích thước (2,5x7) cm, phần đầu hột quẹt có gắn kim loại màu vàng đã qua sử dụng.
  • - 01 ống thủy tinh (nỏ) bị vỡ không rõ hình dạng kích thước.
  • - 01 cái lưỡi lam bằng kim loại màu trắng có hai mặt cắt sắc bén kích thước (4,3x2,3) cm đã qua sử dụng.
  • - 01 cây dao bằng kim loại dài 9,5 cm, phần rộng nhất 1,2 cm, nhỏ nhất 0,5cm trên dao có nhiều hoa văn đã qua sử dụng.
  • - Đối với 01 cục sạc dự phòng màu xám, kích thước (14 x 6,5) cm bị phù vỡ có gắn 01 cáp sạc dài 88cm, 02 đầu cáp sạc có quấn băng keo màu đen không liên quan đến hành vi phạm tội, bị cáo Bùi Phước D không có yêu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu huỷ.

10

[12.2] Đối với các vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội còn giá trị sử dụng cần tịch thu sung quỹ nhà nước gồm:

  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung S11, màu đen có gắn sim số 0819.680.448. màn hình bị bể vỡ không rõ hình dạng kích thước.
  • - Tiền Việt Nam 150.000 đồng.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, loại bàn phím số, số Sê ri 1: 354194104073211, Số sê ri 2: 354194105073210, gắn sim số: 0787907051, đã qua sử dụng.
  • - 01 (một) xe mô tô kiểu dáng Wave Alpha màu đỏ, mang biển số 95F3 – 4813, đã qua sử dụng.

[13] Từ những nhận định nêu trên, có cơ sở chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát, chấp nhận đề nghị của người bào chữa cho bị cáo Trần Thiên T.

[14] Về án phí: Bị cáo Bùi Phước D phải chịu án phí theo quy định pháp luật. Miễn án phí cho bị cáo Trần Thiên T.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 17; Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự đối với bị cáo Bùi Phước D.

[2] Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự đối với bị cáo Trần Thiên T.

[3] Tuyên bố: bị cáo Bùi Phước D và Trần Thiên T phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

[4] Xử phạt: Bị cáo Bùi Phước D 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 09/01/2025.

[5] Xử phạt: Bị cáo Trần Thiên T 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 09/01/2025.

[6] Tiếp tục tạm giam các bị cáo Bùi Phước D, Trần Thiên T 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án 13/6/2025 để đảm bảo thi hành án.

[7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

11

01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế, phần dưới làm bằng cóc thủy tinh được quấn băng keo đen xung quanh, phần trên làm bằng đầu chai nhựa màu xanh có gắn nắp màu trắng được quấn băng keo màu đen xung quanh, trên nắp có khoét 02 lỗ, 01 lỗ có gắn ống hút nhựa màu trắng dài 25cm và một ống hút nhựa màu trắng dài 8,5cm.

Dụng cụ thủy tinh và vỏ bao gói được niêm phong có hình dấu tròn màu đỏ của phòng K1 và chữ ký ghi “người chứng kiến” tên Đặng Thị Phương L1 và “người niêm phong” tên Phan Hoàng K.

01 ống hút nhựa màu trắng dài 4,5 cm, một đầu hàn kín, một đầu cắt nhọn.

01 cái hột quẹt màu trắng đã bị hỏng, dài 9,5 cm phần đầu có kích thước (2x1) cm, phần thân được quấn băng keo màu trắng xanh, phần đầu bị hỏng có gắn một ống giấy bạc màu trắng dài 2,5 cm.

01 cái hột quẹt bằng nhựa màu đỏ kích thước (2,5x7) cm, phần đầu hột quẹt có gắn kim loại màu vàng đã qua sử dụng.

- 01 ống thủy tinh (nỏ) bị vỡ không rõ hình dạng kích thước.

01 cái lưỡi lam bằng kim loại màu trắng có hai mặt cắt sắc bén kích thước (4,3x2,3) cm đã qua sử dụng.

01 cây dao bằng kim loại dài 9,5 cm, phần rộng nhất 1,2 cm, nhỏ nhất 0,5cm trên dao có nhiều hoa văn đã qua sử dụng.

Đối với 01 cục sạc dự phòng màu xám, kích thước (14 x 6,5) cm bị phù vỡ có gắn 01 cáp sạc dài 88cm, 02 đầu cáp sạc có quấn băng keo màu đen không liên quan đến hành vi phạm tội, bị cáo Bùi Phước D không có yêu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu huỷ.

Tịch thu sung quỹ nhà nước các vật chứng sau đây:

  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung S11, màu đen có gắn sim số 0819.680.448. màn hình bị bể vỡ không rõ hình dạng kích thước.
  • - Tiền Việt Nam 150.000 đồng.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, loại bàn phím số, số Sê ri 1: 354194104073211, Số sê ri 2: 354194105073210, gắn sim số: 0787907051, đã qua sử dụng.
  • - 01 (một) xe mô tô kiểu dáng Wave Alpha màu đỏ, mang biển số 95F3 – 4813, đã qua sử dụng.

12

Các vật chứng nêu trên hiện: Đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ theo Quyết định chuyển vật chứng số 19/QĐ-VKS-TXLM ngày 22 tháng 5 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ và Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 06/6/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H với Chi cục thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ. Số tiền 150.000 đồng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ.

[8] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 12, 14, 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo Bùi Phước D phải nộp 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí cho bị cáo Trần Thiên T.

[9] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án ngày 13/6/2025.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hậu Giang;
  • - VKSND tỉnh Hậu Giang;
  • - Sở TP tỉnh HG;
  • - Trại tạm giam-CA tỉnh HG;
  • - VKSND TX.Long Mỹ;
  • - CCTHADS TX.Long Mỹ;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HSVA; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lê Thị Diệu

13

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2025/HS-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 26/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: [1] Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 17; Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự đối với bị cáo Bùi Phước Duy. [2] Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự đối với bị cáo Trần Thiên Tường. [3] Tuyên bố: bị cáo Bùi Phước Duy và Trần Thiên Tường phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. [4] Xử phạt: Bị cáo Bùi Phước Duy 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 09/01/2025. [5] Xử phạt: Bị cáo Trần Thiên Tường 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 09/01/2025. [6] Tiếp tục tạm giam các bị cáo Bùi Phước Duy, Trần Thiên Tường 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án 13/6/2025 để đảm bảo thi hành án.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger