TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 26/2025/ HS-ST Ngày 13 tháng 6 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH - TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tâm
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Liêu Tài Ngoánh
Bà Dương Việt Thu
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Dung - Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu tham gia
phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Nghi - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2025/TLST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2025/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Kim H (tên gọi khác: Lý H1), sinh ngày 01/01/1980 tại Bạc Liêu; Nơi thường trú: Ấp V, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu; Nghề nghiệp: Làm thuê; Dân tộc: Khmer; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Kim S, sinh năm 1959 (đã chết) và bà Lý Thị H2, sinh năm 1959; A, chị, em ruột: 03 người (lớn nhất sinh năm 1979, nhỏ nhất sinh năm 1987); Có vợ tên Thạch Thị S1, sinh năm 1983; Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị bắt theo quyết định truy nã vào ngày 08/01/2025, đến ngày 11/01/2025 bị chuyển tạm giam cho đến nay (bị cáo có mặt).
- Bị hại: Ông Đinh Văn C, sinh 1971, địa chỉ: Ấp A, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu (bị hại có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào ngày 16/02/2005, Thạch C1 cùng với Thạch L đến hồ nuôi tôm của ông Đinh Văn C, thuộc ấp V, xã V, huyện V (nay là huyện H), tỉnh Bạc Liêu để chài tôm, cá, ông C (người giữ vuông) phát hiện và không đồng ý cho C1 và L chài, dẫn đến hai bên cự cải qua lại, sau đó C1 và L về nhà. Do còn bực
tức, nên khoảng 17 giờ ngày 18/02/2005, Thạch C1 đến nhà của Thạch Đ (cha của Thạch L, cậu ruột của Thạch C1) chơi và kể lại sự việc cho Thạch Đ nghe. Sau đó, Thạch C1 rủ Thạch Đ và Thạch N đi đánh, cướp tôm của ông Đinh Văn C để trả thù. Nghe Thạch C1 kể rõ sự việc, Thạch Đ tổ chức uống rượu với Lý M, Lý Ú, Thạch N và Kim H, đồng thời rủ cả nhóm đi đánh, cướp tôm của ông Đinh Văn C, lúc này Lý M, Lý Ú, Thạch N và Kim H đồng ý. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, Thạch Đ cùng cả nhóm đến nhà Thạch C1 uống rượu tiếp, trên đường đi K, L và Lý Ú gặp và rủ thêm Dương L1, Thạch L2 và Sơn L3, nói là đi kéo trộm tôm của ông Đinh Văn C thì Dương L1, Thạch L2 và Sơn L3 đồng ý. Tại nhà T, cả nhóm tổ chức uống rượu và cùng bàn bạc kế hoạch đi đến chòi vuông của ông Đinh Văn C để đánh, cướp tôm trả thù. Riêng Dương L1 không tham gia bàn bạc vì đã qua nhà Thạch L2 (cạnh nhà T) để ngủ. Được sự thống nhất của cả nhóm, khoảng 02 giờ sáng ngày 19/02/2005, Thạch Đương qua nhà Thạch L2 gọi Dương L1 dậy để cùng đi. Khi đi Kim H mang theo dao Thái Lan, Thạch N mang theo khúc cây dài khoảng 01m, Thạch C1 mang theo 01 ống sắt dài khoảng 50cm để làm hung khí, Thạch Đ mang theo chài (dùng để chài tôm), Dương L1 mang 01 bao đựng chài, Lý M mang theo giỏ để đựng tôm, cả nhóm cùng Lý Ú, T, Sơn L3 đi đến vuông tôm của ông Đinh Văn C. Khi gần đến chòi giữ vuông tôm của ông Đinh Văn C, Thạch Đương phân công nhiệm vụ: Lý Mức, Lý Ú, Kim H và Thạch N trực tiếp xông vào đánh và khống chế ông C; Thạch Đ và Dương L1 trực tiếp kéo tôm. Theo sự phân công, khi đến chòi vuông của ông Đinh Văn C thấy chỉ có một mình ông C trong chòi nên Kim H, Lý M, Lý Ú và Thạch N không dùng hung khí mà dùng tay, chân để đánh, đá ông Đinh Văn C, lúc này nghe ông C bị đánh Thạch C1, Thạch L2 và Sơn L3 sợ nên tự ý bỏ chạy về nhà. Khi ông C bị đánh ngã xuống đất, không còn sức kháng cự, Kim H, L, Lý Ú và Thạch N kéo ông C dìm xuống vuông tôm liên tục, nhiều lần, tiếp đó, Kim H, Lý M, Lý Ú và Thạch N kéo ông C lên chòi, tiếp tục đánh đập, Kim H xé mùng nhét vào miệng và dùng dây cột võng có sẵn trong chòi trói ông Đinh Văn C lại rồi đặt ông C nằm úp mặt trên giường. Kim H, Lý M, Lý Ú và Thạch N tiếp tục lục soát đồ đạc trong chòi và lấy đi một điện thoại di động hiệu NOKIA 6230. Trong lúc Kim H, Lý M, Lý Ú và Thạch N đánh ông C, Thạch Đ và Dương L1 xuống ao kéo tôm, sau khi kéo được 01 chài thì chài rách nên cả hai không kéo nữa, sau đó cả nhóm đi về nhà Thạch Đ, trên đường về điện thoại đổ chuông, do không biết sử dụng và hoảng loạn nên Kim H đã vứt điện thoại xuống ao tôm (không xác định được vị trí), sau khi về nhà T, cả nhóm tự động về nhà của mình. Sáng ngày 19/02/2005 Thạch Đ mang tôm đi bán được 100.000 đồng và chia cho Lý M 20.000 đồng. Sau khi nhóm Thạch Đ bỏ về, ông Đinh Văn C tự cởi được dây trói và chạy đến vuông tôm của ông Trần Mạnh T gần đó để kêu cứu rồi ngất xỉu. Đến khoảng 05 giờ sáng ngày 19/02/2005, ông C mới tỉnh dậy và đến trình báo sự việc với Công an xã V.
Quá trình khám nghiệm hiện trường thu giữ: 01 chiếc mền bông cũ, 01 chiếc mùng thun màu xanh, 01 khúc cây dài khoảng 01m, 01 con dao Thái Lan nhỏ, 01 ống sắt (ống xả máy dầu) dài khoảng 50cm, ngày 06/4/2005, ông Thạch Xà L4 giao nộp 01 cái giỏ xách màu vàng đen, có hai quai xách 02 bên màu nâu đỏ.
Căn cứ Bản giám định pháp y số 62/GĐ-YP ngày 30/3/2005 kết luận:
- - Sẹo mờ cánh mũi;
- - Hạn chế nhẹ vận động khớp khuỷu phải.
Tổng hợp tỷ lệ thương tích: 04% (bốn phần trăm) tạm thời”.
Quá trình điều tra xác định ông Đinh Văn C bị thiệt hại tài sản gồm:
- + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, loại 6230, giá trị: 5.600.000 đồng (năm triệu sáu trăm nghìn đồng);
- + 01 kg (một ki lô gam) tôm, giá trị: 100.000 đồng;
- + 01 đèn pin, giá trị: 30.000 đồng.
Sau khi gây án, Kim H đã trốn khỏi địa phương. Đến ngày 11/01/2025 bị bắt truy nã.
Bản Cáo trạng số 26/CT-VKSHB ngày 07/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình truy tố bị cáo Kim H về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 133 Bộ luật Hình sự năm 1999.
* Tại phiên tòa:
- - Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Kim H, đề nghị Hội đồng xét xử:
- + Tuyên bố bị cáo Kim H phạm tội Cướp tài sản.
- + Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 133; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999, xử phạt bị cáo Kim H từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản”.
- + Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
- + Về vật chứng: Đã được giải quyết xong tại bản án số 91/2005/HSST ngày 24/11/2005 của TAND tỉnh Bạc Liêu.
- + Về án phí: Buộc bị cáo Kim H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
- - Người bào chữa của bị cáo là ông Trần Duy C2 trình bày: Thống nhất với cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình đối với bị cáo Kim H. Tuy nhiên, bị cáo là người có trình độ học vấn thấp, hiện nay bị cáo đã ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo có hoàn cảnh gia đình nghèo khó, nhà có mẹ già, con nhỏ, vợ đang mang thai. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sơm trở về với gia đình.
- - Bị hại ông Đinh Văn C trình bày: Ông thống nhất với cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình đối với bị cáo Kim H. Về trách nhiệm dân
sự: không yêu cầu; Về trách nhiệm hình sự: đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định pháp luật.
- Bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của chính bị cáo trong giai đoạn điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại về thời gian, địa điểm thực hiện tội phạm và đặc điểm tài sản bị chiếm đoạt cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa. Từ những chứng cứ trên, đủ căn cứ chứng minh:
Vì động cơ tham lam, vụ lợi bất chính và trả thù cá nhân, khoảng tháng 02 giờ ngày 19/02/2005 tại ấp V, xã V, huyện V (nay là huyện H), tỉnh Bạc Liêu bị cáo đã có hành vi cùng với Thạch Đ, Thạch C1, Lý M, L, Thạch N tổ chức thực hiện dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản của ông Đinh Văn C có giá trị 5.730.000 đồng.
[2.2] Bị cáo Kim H thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp; Trước, trong, sau khi thực hiện hành vi, bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội này của bị cáo Kim H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” thuộc trường hợp có tổ chức.
Thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội là năm 2005, xét thấy thời điểm này Bộ luật Hình sự năm 1999 đang có hiệu lực. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 7 Bộ luật Hình sự áp dụng quy định tại Bộ luật Hình sự năm 1999 đối với hành vi phạm tội của bị cáo là phù hợp. Do đó Cáo trạng 26/CT-VKSHB ngày 07/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình truy tố Kim Hoàng (tên gọi khác: Lý H1) về tội “Cướp tài sản” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 133 Bộ luật Hình sự năm 1999 là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
[2.3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của bị hại, thể hiện ý thức sống lệch lạc, xem thường pháp luật, xem nhẹ thành quả lao động và sự an toàn về sức khỏe, tính mạng của người khác. Không những thế, hành vi phạm tội của bị cáo còn gây mất trật tự an ninh chính trị ở địa phương. Do đó, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời
gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích và cũng để răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra ban đầu bị cáo Kim H đã bỏ trốn tuy nhiên khi bị bắt giữ đến phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu bồi thường nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
[5] Về vật chứng: Đã được giải quyết xong tại bản án số 91/HSST ngày 24/11/2005 của TAND tỉnh Bạc Liêu.
[6] Các vấn đề khác: Đối với hành vi của Lý M, Lý Ú, Thạch C1 đã bị xử lý tại Bản án số 91/2005/HSST, ngày 24/11/2005 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.
Đối với hành vi của Thạch Đ (Đ1) đã bị xử lý tại Bản án số 75/2006/HSST, ngày 15/8/2006 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.
Đối với hành vi của Thạch N đã bị xử lý tại Bản án số 59/2009/HSST, ngày 30/9/2009 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.
Đối với Dương L1, có hành vi trộm cắp tài sản của Đinh Văn C, tuy nhiên do tài sản chiếm đoạt có giá trị dưới mức định lượng truy cứu trách nhiệm hình sự, Cơ quan điều tra quyết định xử phạt hành chính là có căn cứ ; Đối với hành vi cướp tài sản của Lý M, Lý Ú, Thạch C1, Thạch Đ, T, Kim H là vượt quá vai trò đồng phạm của Dương L1, do đó không có cơ sở xử lý về tội cướp tài sản đối với Dương L1.
Đối với hành vi của Thạch L2, Thạch L, Sơn L3 có dấu hiệu tội “Không tố giác tội phạm” theo quy định tại Điều 314 Bộ luật hình sự năm 1999, tuy nhiên đến nay đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự nên không xử lý.
[7] Về án phí: Bị cáo Kim H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Kim H (L) phạm tội “Cướp tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 7, điểm a khoản 2 Điều 133; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999.
Xử phạt bị cáo Kim H (L) 07 (bảy) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 08/01/2025.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 133 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo Kim H (L) phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Án xử công khai, bị cáo, bị hại (có mặt tại phiên tòa) có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh T1 |
Bản án số 26/2025/ HS-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH - TỈNH BẠC LIÊU về hình sự sơ thẩm - cướp tài sản
- Số bản án: 26/2025/ HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm - Cướp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH - TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tuyên phạt 6 năm tù
