Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẠC LIÊU

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2025/HS-ST

Ngày 04/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Hồng Trinh
  • - Các Hội thẩm nhân dân:
  • 1. Bà Dư Thị Út
  • 2. Bà Khưu Liên Dung
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Khương Bửu Bửu - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Ngô Tuấn L; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 22/11/1998 tại Bạc Liêu; Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: ấp G, xã H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ngô Đồng H, sinh năm: 1967 và bà Nguyễn Thị P, sinh năm: 1968; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 31/12/2020 Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu ra Quyết định số 136/QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng, đã chấp hành xong ngày 15/7/2022. Ngày 19/9/2024, khởi tố bị can và áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngô Tuấn L là đối tượng nghiện ma tuý. Khoảng 11 giờ ngày 16/9/2024, L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 94K1-876.42 đi từ ấp G, xã H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu đến khu vực cầu S, khóm F, phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu mua ma tuý từ một người thanh niên (không rõ nhân thân), với số tiền 200.000 đồng. Sau đó bị cáo cầm giấu ma túy bên tay trái và điều khiển xe về nhà. Đến khoảng 11 giờ 40 phút cùng ngày, khi về đến đường C thuộc khóm B, phường B, thành phố B thì bị đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma tuý Công an thành phố B và Công an phường B, thành phố B dừng xe, kiểm tra và thu giữ trên tay trái của bị cáo 01 bịch nylon màu trắng hàn kín, có nẹp miệng, gần nẹp miệng có đường viền màu đỏ, kích thước 1,5cm x 2,1cm bên trong bịch nylon có chứa nhiều hạt tinh thể màu trắng nghi là ma tuý nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Kết quả xét nghiệm ma tuý ngày 17/9/2024 của Trạm y tế phường 1 thành phố B xác định bị cáo Ngô Tuấn L dương tính với M - THC

Bản kết luận giám định số: 112/KL-KTHS, ngày 25/9/2024, của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: “Các hạt tinh thể màu trắng, bên trong bịch nylon (kí hiệu M) là chất ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,12953 gam”.

Cáo trạng số 14/CT-VKS-HS ngày 07 tháng 01 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu truy tố bị cáo Ngô Tuấn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

  • - Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
  • + Tuyên bố bị cáo Ngô Tuấn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • + Áp dụng điểm c khoản 1, Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Ngô Tuấn L từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
  • + Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
  • Đối với số ma túy còn lại sau giám định có khối lượng là 0,11079 gam và toàn bộ các vỏ phong bì, vỏ gói nylon được chứa trong phong bì ghi “112/GĐMT-2024”. Trên gói niêm phong có chữ ký ghi tên Bùi Nghi E và 04 (bốn) dấu mộc tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B, đề nghị tịch thu tiêu hủy theo quy định.
  • + Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, buộc bị cáo L phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Ngô Tuấn L đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố đối với bị cáo. Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đã ăn năn hối cải. Bị cáo không có ý kiến tranh luận, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt và không có ý kiến gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình tố tụng bị cáo L không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Nội dung vụ án: Tại phiên tòa, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của chính bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa. Do đó, có đủ căn cứ chứng minh: Vào lúc 11 giờ 40 phút, ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại đường C, khóm B, phường B, thành phố B, bị cáo Ngô Tuấn L có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine với khối lượng là 0,12953 gam, không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy.

Trước, trong và sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo L có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Từ những phân tích trên, có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo Ngô Tuấn L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[3] Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, đồng thời gây mất an ninh trật tự tại địa phương, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Bị cáo là thanh niên, có sức khỏe, lẽ ra phải chí thú làm ăn để lo cho bản thân và gia đình, nhưng lại sa vào con đường nghiện hút dẫn đến phạm tội. Bản thân bị cáo đã từng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng không có ý thức sửa đổi mà lại tái nghiện. Do đó, cần có mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian phù hợp nhằm cải tạo giáo dục bị cáo trở thành một công dân tốt, đồng thời nhằm mục đích răn đe, phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Ngô Tuấn L không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

[5] Đối với người thanh niên bán ma túy cho bị cáo, do không xác định được nhân thân, lai lịch nên không làm việc được. Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau là phù hợp.

[6] Về xử lý vật chứng trong vụ án:

[6.1] Đối với số ma túy còn lại sau giám định có khối lượng là 0,11079 gam và toàn bộ các vỏ phong bì, vỏ gói nylon được chứa trong phong bì ghi “112/GĐMT-2024” do là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

[6.2] Đối với 01 xe mô tô màu đen trắng, loại WAVE RSX, nhãn hiệu HONDA, biển kiểm soát 94K1-876.42, số khung: 3828KY018758, số máy: JA38E0483554 là của ông Huỳnh Khánh M1, xét thấy không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô cho ông M1 là phù hợp.

[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố B về tội danh, hình phạt và các nội dung khác đối với các bị cáo là phù hợp nên được chấp nhận toàn bộ.

[8] Về án phí: Bị cáo Ngô Tuấn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[9] Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố bị cáo Ngô Tuấn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
    Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Ngô Tuấn L 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.
  2. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định có khối lượng 0,11079 gam, loại Methamphetamine.
    Vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/01/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu.
  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án: Buộc bị cáo Ngô Tuấn L phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 04/3/2025).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Hồng Trinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2025/HS-ST ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 26/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngô Tuấn L tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger