|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 26/2025/HS-ST Ngày 03 tháng 4 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Thuận Lợi.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Lê Đăng Phương và bà Trần Thị Ánh Thu.
Thư ký phiên toà: Ông Lê Văn Hưng - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Ông Phạm Hải Cảng và ông Trần Quách Thịnh - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 18/2025/TLST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 18/2025/QĐXXST- HS ngày 11 tháng 3 năm 2025, đối với các bị cáo:
-
Huỳnh Văn S, sinh ngày 03/5/1972 tại huyện A, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Tổ A, ấp A, xã K, huyện A, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo; đảng, đoàn: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Thái D và bà Đặng Thị D1 và có 02 con;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/6/2024 đến nay, hiện đang tạm giam Trại tạm giam - Công an tỉnh A (có mặt).
Người bào chữa theo yêu cầu của bị cáo Huỳnh Văn S: Ông Huỳnh Tấn D2, Luật sư, Công ty L chi nhánh P2, Đoàn luật sư tỉnh K; địa chỉ: Số B, tầng A, đường N, Khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
-
La Văn T, sinh ngày 10/10/1982 tại huyện A, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Tổ D, ấp K, xã K, huyện A, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Chạy xe ôm; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: P; đảng, đoàn: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông La Văn D3 và bà Nguyễn Hoàng Y và có 02 con;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/6/2024 đến nay, hiện đang tạm giam Trại tạm giam - Công an tỉnh A (có mặt).
-
Trần Thị T1, sinh ngày 17/4/1976 tại Campuchia; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Tổ A, ấp A, xã K, huyện A, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Đạo Phật; đảng, đoàn: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thanh Đ và bà Lý Thị Đ1 và có 02 con;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/6/2024 đến nay, hiện đang tạm giam Trại tạm giam - Công an tỉnh A (có mặt).
Người bào chữa theo yêu cầu của bị cáo Trần Thị T1: Bà Hồ Hoàng P, Luật sư, Văn phòng L1, Đoàn luật sư tỉnh A; địa chỉ: Số A, tổ A, đường T, phường M, thành phố L (có mặt).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
-
Ông Trần Văn T2, sinh năm 1952; nơi cư trú: Ấp A, xã K, huyện A, tỉnh An Giang (có mặt);
-
Bà Huỳnh N, sinh năm 1997; nơi cư trú: Ấp A, xã K, huyện A, tỉnh An Giang (vắng mặt);
-
Ông Huỳnh Mạnh H, sinh năm 2004; nơi cư trú: Ấp A, xã K, huyện A, tỉnh An Giang (vắng mặt);
-
Bà Trần Thị Ánh P1, sinh năm 1982; nơi cư trú: Số A, đường D, phường A quận F, thành phố Hồ Chí Minh (có mặt);
Người làm chứng ông/bà: Huỳnh Thị B, sinh năm 1963; Nguyễn Quốc D4, sinh năm 1963 (tất cả đều có mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 04 giờ ngày 12/6/2024, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh A phối hợp với các phòng nghiệp vụ Công an tỉnh A tiến hành kiểm tra tại khu vực bến sông thuộc tổ C, khóm T, thị trấn L, huyện A, An Giang, phát hiện La Văn T đang điều khiển xe mô tô biển số 67G1-758.32 có dấu hiệu nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện thu giữ trên ba ga xe mô tô của T 01 túi nilon màu đen, bên trong có 01 gói hình chữ nhật được quấn kín băng keo màu vàng, lực lượng Công an yêu cầu T mở gói hình chữ nhật kiểm tra thì phát hiện có 5.317 tờ tiền đô la Mỹ, gồm: 5.297 tờ mệnh giá 100USD, 04 tờ mệnh giá 50USD, 09 tờ mệnh giá 20USD, 07 tờ mệnh giá 10USD, tổng cộng 530.150 USD. T khai nhận đây là số tiền được vợ chồng Trần Thị T1 và Huỳnh Văn S thuê T vận chuyển từ nhà của T1 đến khu vực nêu trên để giao cho đối tượng người Campuchia tiếp tục mang qua biên giới với tiền công 600.000 đồng, nên lực lượng tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với La Văn T và tạm giữ tang vật để điều tra, làm rõ.
Cùng ngày, Huỳnh Văn S đầu thú khai nhận số tiền đô la Mỹ nêu trên do T1 và S đưa cho T để mang qua Campuchia thì bị bắt quả tang. Ngày 14/6/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh A tiến hành bắt khẩn cấp đối với Trần Thị T1 để điều tra, xử lý.
Qua điều tra xác định: Từ đầu năm 2024, T1 bắt đầu liên hệ với các đối tượng tại thành phố Hồ Chí Minh và Campuchia (chưa rõ nhân thân lai lịch) nhận vận chuyển tiền đô la Mỹ qua biên giới Việt Nam - Campuchia để thu lợi và rủ S tham gia cùng với T1. Sau đó, S gặp T thuê vận chuyển tiền cho vợ chồng S đến khu vực biên giới giao cho đối tượng người Campuchia, mỗi lần trả công 600.000 đồng, với cách thức như sau: T1 trực tiếp liên lạc với người thuê vận chuyển tiền tại thành phố Hồ Chí Minh để thỏa thuận địa điểm nhận tiền đô la M rồi hướng dẫn Huỳnh N và Huỳnh Mạnh H (con của T1 và S) đến địa điểm nhận tiền đô la M đem về nơi ở của N và H kiểm đếm, đóng gói. Sau đó H trực tiếp mang tiền về huyện A giao cho vợ chồng S hoặc T1 thuê Trần Văn T2 lên thành phố Hồ Chí Minh gặp N nhận tiền mang về huyện A. Sau khi T2 vận chuyển tiền về huyện A, S sẽ đến gặp T2 nhận tiền mang về nhà cất giữ, rồi liên lạc với T kêu đến lấy tiền vận chuyển đến khu vực biên giới giao cho đối tượng người Campuchia. Với cách thức này từ đầu năm 2024 đến khi bị bắt, T1, S và T đã nhiều lần vận chuyển tiền qua biên giới Việt Nam sang Campuchia, mỗi tuần từ 01 - 02 lần, nhưng không xác định số tiền cụ thể.
Vào ngày 11/6/2024, T1 kêu N và H đến khu vực siêu thị M1 thuộc Quận F, thành phố Hồ Chí Minh liên lạc qua số điện thoại 0327.157.xxx với người tên D4 để nhận tiền đô la Mỹ, rồi đem về kiểm đếm, đóng gói và đem đến khu vực Bến xe Miền T giao cho T2. T2 nhận tiền đem về đến huyện A thì điện thoại báo cho T1 biết, đến khoảng 20 giờ cùng ngày, S đi đến nhà của T2 nhận bọc tiền và trả tiền công cho T2 1.500.000 đồng. Đến khoảng 03 giờ 56 phút ngày 12/6/2024, T1 sử dụng điện thoại của S (0398.995.xxx) gọi cho T kêu đến nhà T1 để nhận bọc tiền đô la Mỹ, đem đến khu vực sông B tiếp giáp với biên giới Campuchia để giao cho đối tượng người Campuchia. Lúc này, T điều khiển xe mô tô biển số 67G1-758.32 đến nhà T1 thì gặp S mang bọc tiền ra giao cho T, đồng thời trả tiền công 600.000 đồng. T điều khiển xe chở bọc tiền đô la Mỹ đi đến khu vực bến sông B, chuẩn bị giao thì bị phát hiện bắt quả tang như nêu trên.
Ngày 20/6/2024, T1, S, T bị khởi tố điều tra.
Vật chứng thu giữ: 5.317 tờ tiền đô la Mỹ, gồm: 5.297 tờ mệnh giá 100USD, 04 tờ mệnh giá 50USD, 09 tờ mệnh giá 20USD, 07 tờ mệnh giá 10USD, tổng cộng 530.150USD; Tiền Việt Nam 150.000.000 đồng; 07 điện thoại di động; 01 xe mô tô biển số 67G1-758.32, đã qua sử dụng.
Tại Kết luận giám định số 820/KL-KTHS ngày 20/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh A, kết luận: 5.306 (Năm ngàn ba trăm lẻ sáu) tờ tiền đô la M mẫu cần giám định là tiền thật.
Tại Kết luận giám định số 848/KL-KTHS, ngày 30/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh A, kết luận: 11 tờ tiền đô la Mỹ gồm: 07 tờ tiền đô la Mỹ cùng mệnh giá 10 USD, 04 tờ tiền đô la Mỹ cùng mệnh giá 20 USD tất cả đều là tiền thật.
Tại Kết luận định giá tài sản số 12.09/KL.HĐĐGTS, ngày 03/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thường xuyên tỉnh An Giang, kết luận: Tại thời điểm ngày 12/6/2024, số tiền 530.150 USD có giá trị 12.858.258.100 đồng.
Tại Cơ quan điều tra các bị can Huỳnh Văn S, La Văn T khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã nêu, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, kết luận giám định, định giá tài sản, vật chứng thu giữ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Riêng bị can Trần Thị T1 ban đầu khai nhận vào ngày 12/6/2024 có thuê La Văn T vận chuyển bọc tiền đô la Mỹ để giao cho đối tượng người Campuchia nhưng sau đó thay đổi lời khai, không thừa nhận hành vi phạm tội. Nhưng căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được Cơ quan điều tra thu thập trong hồ sơ vụ án, đã đủ cơ sở kết luận Trần Thị T1 có hành vi vận chuyển trái phép 530.150 USD qua biên giới vào ngày 12/6/2024. Việc Trần Thị T1 khai nại nhằm trốn tránh trách nhiệm hình sự.
Trần Văn B1, Trần Văn V, S, Trương Thanh H1 Tại Cáo trạng số: 24/CT-VKSAG-P1 ngày 18/2/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang đã truy tố Trần Thị T1, Huỳnh Văn S, La Văn T về tội “Vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới” theo quy định tại khoản 3 Điều 189 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa các bị cáo Trần Thị T1, Huỳnh Văn S, La Văn T khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, các kết luận giám định, định giá tài sản, vật chứng thu giữ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của của từng bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo cùng phạm tôi “Vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới”. Áp dụng khoản 3 Điều 189, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Huỳnh Văn S từ 05 năm đến 06 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo S. Áp dụng khoản 3 Điều 189, điểm s, điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 54, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo La Văn T từ 03 năm đến 04 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo T. Áp dụng khoản 3 Điều 189, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 35, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thị T1 số tiền từ 1.500.000.000đ đến 1.700.000.000đ. Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng các Điều 46, Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 túi nilong màu đen và 01 túi nilong màu đen có quấn băng keo màu vàng, đã qua sử dụng. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 530.150 USD, mệnh giá 100USD, 20USD, 10USD; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave 110, màu xanh, biển số 67G1-758.32, số khung: NF100M0058324, số máy: NF110ME-0058324, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu xanh, kiểu máy V2027, số Ime1: 866520059829176, số Imel 2: 866520059829168, đã qua sử dụng (thu giữ của La Văn T); 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, model Iphone 12 Pro Max, số IMEI: 351732275680711, số Imel2: 351732275699919; 01 Điện thoại di động màu xanh-đen, nhãn hiệu Nokia 216, số seri 1: 354890087084667; số seri 2: 354890087084675; 01 Điện thoại di động màn hình cảm ứng, màu bạc nhãn hiệu Apple, model Iphone 6 Plus, khóa mật khẩu, đã qua sử dụng. (Thu giữ của Huỳnh Văn S và Trần Thị T1); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Viettel, màu đen, số Imel 1: 354129330440594, số Imel 2: 354129330440602, đã qua sử dụng (thu giữ của Trần Thị T1); Tiền Việt Nam: 2.100.000 đồng do La Văn T và Trần Văn T2 tự nguyện giao nộp. Tiếp tục tạm giữ số tiền 1.150.000.000đ để đảm bảo thi hành án.
Trả lại cho Trần Văn T2: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 6300, số seri 354864022206610, đã qua sử dụng.
Trả lại cho Huỳnh N: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu trắng, số Imel: 353894105327471, số Imel2: 353894105355423, đã qua sử dụng; 01 (một) thẻ ATM ngân hàng S1 mang tên Huỳnh N, số thẻ 5174160064453856; 01 (một) thẻ ATM ngân hàng Á (A) mang tên Huỳnh N, số thẻ 4221094009603836.
Trả lại cho Huỳnh Mạnh H: 01 (một) thẻ ATM ngân hàng S1 mang tên Huỳnh Mạnh H, số thẻ 9704030119961974; 01 (một) thẻ ATM ngân hàng V1 mang tên Huỳnh Mạnh H, số thẻ 4541190930762353.
Người bào chữa cho bị cáo Trần Thị T1: Thống nhất về tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt nhẹ hơn mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị.
Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Văn S có quan điểm: Thống nhất về tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với hành vi phạm tội của bị S. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tạo điều kiện cho hoàn cảnh của bị cáo để giảm nhẹ hình phạt, dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.
Các bị cáo Trần Thị T1, Huỳnh Văn S nhất trí với bản luận cứ bào chữa của người bào chữa, đồng thời không bào chữa hoặc tranh luận thêm gì khác, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Bị cáo La Văn T không bào chữa và tranh luận gì thêm. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Trong phát biểu đối đáp, đại diện Viện kiểm sát có quan điểm: Các Luật sư đều thống nhất với luận tội, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt; tuy nhiên các Luật sư cũng chỉ nêu lại các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như bản luận tội. Do đó, vẫn giữ nguyên quan điểm như bản luận tội. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét và quyết định.
Trong lời nói sau cùng, các bị cáo T1, S, T thành khẩn nhận tội, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
-
Về thủ tục tố tụng:
- Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
- Tại phiên tòa một số người có liên quan vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
-
Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Trong khoảng thời gian từ năm 2024, các bị cáo đã nhiều lần vận chuyển tiền tệ qua biên giới Việt Nam sang Campuchia, mỗi tuần từ 01 - 02 lần, nhưng không xác định số tiền cụ thể. Vào ngày 12/6/2024, các bị cáo Trần Thị T1, Huỳnh Văn S, La Văn T đã có hành vi vận chuyển trái phép 530.150 USD, có trị giá 12.858.258.100 đồng qua biên giới Việt Nam để đem sang V Campuchia.
Hành vi nêu trên của các bị cáo đã phạm tội “Vận chuyển trái phép tiền tệ biên giới”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 3 Điều 189 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có khung hình phạt được quy định là phạt tiền từ 1.000.000.000đ đến 3.000.000.000đ hoặc phạt tù từ 05 năm đến 10 năm; tội phạm rất nghiêm trọng.
-
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, quản lý tiền tệ của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần phải xét xử các bị cáo với một mức án tương xứng với hành vi phạm tội mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
-
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Các bị cáo đều là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vì hám lợi nên đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật là vận chuyển trái phép ngoại tệ USD qua biên giới với giá trị vật phạm pháp trên 500 triệu đồng. Vụ án có nhiều bị cáo tham gia thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, hành vi của từng bị cáo trong vụ án có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau; do đó cần phân hóa hành vi của từng bị cáo để khi lượng hình có mức án phù hợp nhằm giáo dục cải tạo các bị cáo, phát huy tác dụng răn đe và phòng ngừa chung; đồng thời cũng thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội. Cụ thể:
Đối với các bị cáo Trần Thị T1 người giữ vai trò chính trong việc tổ chức vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới, trực tiếp điều hành. Do đó, để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, để cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội. Tuy nhiên, đây là vụ án trong lĩnh vực kinh tế, bị cáo T1 và bị cáo S có mối quan hệ vợ chồng cùng bị xử lý trong một vụ án, bị cáo T1 và bị cáo S có 02 người con đang đi học, cần sự chăm sóc của người thân trong gia đình, đồng thời bản thân bị cáo T1 là phụ nữ từng mắc bệnh hiểm nghèo cần phải tiếp tục điều trị, chăm sóc sức khỏe; bị cáo cũng có cha mẹ và người thân là người có công với cách mạng được nhà nước ghi nhận, tặng thưởng huân huy chương. Ngoài ra bị cáo T1 cũng đã bị tạm giam thời hạn hơn 09 tháng. Do đó, căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh phạm tội của bị cáo, cần thiết áp dụng mức hình phạt phù hợp với bị cáo T1 cũng là đủ sức răn đe, giáo dục đối với bị cáo như đề nghị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Xét, chấp nhận.
Đối với bị cáo Huỳnh Văn S có mối quan hệ vợ chồng với bị cáo T1, bị cáo thực hiện hành vi vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới theo yêu cầu của T1, không hưởng lợi, giữ vai trò giúp sức cho bị cáo T1 trong vụ án, do đó cần có mức hình phạt tương ứng với hành vi của bị cáo cũng đủ răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.
Đối với bị cáo La Văn T với vai trò thực hành, giúp sức tham gia vận chuyển tiền tệ trái phép từ Việt Nam sang vương quốc Campuchia với số USD phải chịu trách nhiệm là 530.150 USD. Tuy nhiên, khi lượng hình cần phân hóa vai trò của bị cáo trong vụ án, bị cáo đóng vai trò là người làm thuê vận chuyển theo yêu cầu của T1 và S để được hưởng tiền công. Do đó, thiết nghĩ khi lượng hình cần xem xét mức hình phạt của bị cáo thấp hơn bị cáo S.
-
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Không.
Về các tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo đã thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải, là người lao động, hiểu biết pháp luật còn hạn chế, lần đầu phạm tội. Đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Riêng bị cáo La Văn T còn được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
-
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 189 của Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Xét thấy, bị cáo Trần Thị T1 đã áp dụng hình phạt chính là phạt tiền. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo. Riêng bị cáo S và bị cáo T có hoàn cảnh khó khăn, không có nghề nghiệp ổn định, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung như quan điểm đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là có cơ sở.
-
Về vật chứng: Tại phiên tòa, qua tranh tụng đã xác định được các vật chứng bị thu giữ trong vụ án và yêu cầu của các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; theo đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, do đó được Hội đồng xét xử chấp nhận.
-
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Văn S, La Văn T và Trần Thị T1 phạm tội “Vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới” .
-
Căn cứ khoản 3, Điều 189; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn S 05 (năm) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 12/6/2024).
-
Căn cứ khoản 3 Điều 189; điểm s, điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 54; Điều 58; Điều 38; của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo La Văn T 03 (ba) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 12/6/2024).
-
Căn cứ khoản 3 Điều 189; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 35; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Phạt bị cáo Trần Thị T1 số tiền 1.500.000.000đ (Một tỷ năm trăm triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.
Căn cứ khoản 3 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự, trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Trần Thị T1 đang bị tạm giam, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
-
Căn cứ các Điều 46, Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
-
- Tịch thu tiêu hủy: 01 túi nilong màu đen và 01 túi nilong màu đen có quấn băng keo màu vàng, đã qua sử dụng.
-
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 530.150 USD, mệnh giá 100USD, 20USD, 10USD; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave 110, màu xanh, biển số 67G1-758.32; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu xanh, kiểu máy V2027, số Imel: 866520059829176, số Imel 2: 866520059829168, đã qua sử dụng (thu giữ của La Văn T); 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, model Iphone 12 Pro Max, số IMEI: 351732275680711, số Imel2: 351732275699919; 01 Điện thoại di động màu xanh - đen, nhãn hiệu Nokia 216, số seri 1: 354890087084667; số seri 2: 354890087084675; 01 Điện thoại di động màn hình cảm ứng, màu bạc nhãn hiệu Apple, model Iphone 6 Plus, khóa mật khẩu, đã qua sử dụng. (Thu giữ của Huỳnh Văn S và Trần Thị T1) 01 điện thoại di động nhãn hiệu Viettel, màu đen, số Imel 1: 354129330440594, số Imel 2: 354129330440602, đã qua sử dụng (thu giữ của Trần Thị T1); Tiền Việt Nam: 2.100.000₫ do La Văn T và Trần Văn T2 tự nguyện giao nộp.
-
- Tiếp tục tạm giữ số tiền 1.150.000.000đ để đảm bảo thi hành án.
-
- Trả lại cho Trần Văn T2: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 6300, số seri 354864022206610, đã qua sử dụng.
-
- Trả lại cho Huỳnh N: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu trắng, số Imel: 353894105327471, số Imel2: 353894105355423, đã qua sử dụng; 01 (một) thẻ ATM ngân hàng S1 mang tên Huỳnh N, số thẻ 5174160064453856; 01 (một) thẻ ATM ngân hàng Á (A) mang tên Huỳnh N, số thẻ 4221094009603836.
-
- Trả lại cho Huỳnh Mạnh H: 01 (một) thẻ ATM ngân hàng S1 mang tên Huỳnh Mạnh H, số thẻ 9704030119961974; 01 (một) thẻ ATM ngân hàng V1 mang tên Huỳnh Mạnh H, số thẻ 4541190930762353.
(Đặc điểm vật chứng như Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng vào lúc 15 giờ 30 phút, ngày 19/3/2025 và 09 giờ 30 phút, ngày 06/3/2025 giữa Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh A với Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang; Biên lai thu tiền số 0000258 ngày 01/4/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang).
-
-
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Huỳnh Văn S, La Văn T và Trần Thị T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thuận Lợi |
Kết quả biểu quyết: thống nhất 3/3.
Nghị án kết thúc vào hồi ...... giờ ...... phút, ngày 03 tháng 4 năm 2025.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Trần Lê Đăng Phương Trần Thị Ánh Thu |
Nguyễn Thuận Lợi |
Bản án số 26/2025/HS-ST ngày 03/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới
- Số bản án: 26/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: “Vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới” .
