TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 26/2025/HS-PT Ngày 27 - 6 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ma Hồng Thắng
Các Thẩm phán: Ông Triệu Ngọc Thức và ông Nguyễn Xuân Thủy
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Hà, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Đậu Thị Tuyết Hảo, Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 36/2025/TLPT-HS ngày 04 tháng 6 năm 2025 đối với các bị cáo Trần Thanh T và Lưu Thị T1 do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 40/2025/HS-ST ngày 25 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.
Các bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Trần Thanh T (tên gọi khác: không); sinh ngày 17 tháng 3 năm 1974 tại tỉnh Tuyên Quang;
Nơi cư trú: Tổ dân phố E, phường A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do (khi thực hiện hành vi phạm tội đang là cán bộ Bảo hiểm xã hội huyện Y, hiện đã nghỉ việc); Chức vụ Đảng, đoàn thể: Đảng viên Đ (hiện đã bị đình chỉ sinh hoạt theo Quyết định số 162-QĐ/UBKT ngày 04/4/2025 của Ủy ban kiểm tra - Thành ủy T5); trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn N (đã chết) và bà Trần Thị T2, sinh năm 1950; Có vợ: Trần Thị Mai L, sinh năm 1989 và 02 con (con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2016);
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
Họ và tên: Lưu Thị T1 (tên gọi khác: không); sinh ngày 11 tháng 9 năm 1988 tại tỉnh Tuyên Quang;
Nơi ĐKHKTT: Thôn Lâm Sơn, xã Trung Sơn, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang;
Chỗ ở: Thôn Làng Nhà, xã Kim Quan, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang; Nghề nghiệp: Giáo viên mầm non (Trường Mầm non K, huyện Y); Chức vụ Đảng, đoàn thể: Đảng viên Đ (hiện đã bị đình chỉ sinh hoạt theo Quyết định số 231-QĐ/UBKT ngày 17/3/2025 của Ủy ban kiểm tra - Huyện ủy Y); trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lưu Ngọc N1, sinh năm 1959 và bà La Thị M, sinh năm 1963; Có chồng: Nguyễn Việt T3 (đã chết) và 02 con (con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2017);
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có 01 bị hại không có kháng cáo và không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Thanh T, sinh năm 1974, trú tại tổ E, phường A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang (là cán bộ cơ quan Bảo hiểm xã hội huyện Y) và Lưu Thị T1, sinh năm 1988, trú tại thôn L, xã T, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang (là giáo viên trường mầm non K) có mối quan hệ quen biết nhau; cả hai người đều không có chức năng, nhiệm vụ quyền hạn trong việc tuyển dụng viên chức vào ngành giáo dục tỉnh Tuyên Quang. Đầu tháng 12/2022, T gọi điện nói với T1 “Bây giờ có 15 chỉ tiêu xét viên chức còn thiếu, có ai có nhu cầu thì giới thiệu cho anh, mỗi xuất 200.000.000 đồng, anh được 02 xuất” (đây là thông tin gian dối do T bịa đặt), mục đích bảo T1 tìm người có nguyện vọng muốn xin vào viên chức ngành giáo dục thì nhận tiền và đưa cho T để T chiếm đoạt, T nói sẽ chia cho T1 một phần trong số tiền chiếm đoạt được, nghe vậy T1 đồng ý.
Khoảng 4 đến 5 ngày sau T1 gặp Triệu Thị N2, trú tại thôn N, xã T, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang (là giáo viên hợp đồng trường mầm non H) tại khu vực ngã ba xã T, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Biết N2 đang là giáo viên hợp đồng, có nguyện vọng được tuyển dụng vào viên chức ngành giáo dục nên T1 nói với N2 “Hiện tại có 15 chỉ tiêu được xét đặc cách tuyển viên chức, em được nhận 02 suất và mỗi xuất muốn lo phải bỏ ra số tiền là 200.000.000 đồng, nếu chị lo được em sẽ giúp, chắc chắn là được”, N2 nói muốn về suy nghĩ thêm. Khoảng 2 đến 3 ngày sau, N2 gọi điện thoại nhờ T1, T1 bảo N2 chuẩn bị tiền và hồ sơ cá nhân. Sau đó, T1 gọi điện thông báo cho T biết, T bảo T1 nhận tiền, sau đó mang đến cho T. Ngày 15/12/2022, T1 gọi điện hỏi N2 đã chuẩn bị được tiền chưa, N2 nói chuẩn bị được 60.000.000 đồng, T1 bảo N2 lo được bao nhiêu thì T1 lấy bấy nhiêu để mang đi đặt cọc, số còn lại khi nào lo được thì lấy sau. Khoảng 17 giờ ngày 16/12/2022, T1 đến nhà N2 nhận 60.000.000 đồng tiền mặt, khi đưa tiền cho T1, N2 lập giấy vay tiền viết tay với nội dung: T1 vay của N2 số tiền là 60.000.000 đồng tiền mặt, thời hạn cho vay là 03 tháng; đối với số tiền 140.000.000 đồng còn lại N2 và T1 thống nhất N2 sẽ thu xếp đủ và chuyển khoản cho T1 sau, khi chuyển tiền xong sẽ ghi vào giấy là tiền chuyển khoản 140.000.000 đồng, T1 và N2 cùng nhau ký tên xác nhận vào giấy biên nhận vay tiền trên; sau đó T1 nhận tiền và hồ sơ cá nhân của N2 mang về nhà. Trên đường về, T1 gọi điện hẹn gặp T ở vòng xuyến đầu cầu T (gần chùa A) thành phố T. Khi gặp T, T1 đưa cho T số tiền 50.000.000 đồng, T1 giữ lại 10.000.000 đồng và đưa hồ sơ cá nhân của N2 cho T và nói số tiền còn lại khi nào N2 đưa đủ sẽ đưa tiếp cho T, T đồng ý, nhận tiền và hồ sơ T1 đưa, sau đó cả hai đi về. Trên đường về khi đi qua bãi rác công cộng tại khu vực chợ B1, thành phố T, T đã vứt bỏ túi đựng hồ sơ cá nhân của N2 và chỉ giữ lại tờ giấy có ghi thông tin cá nhân của N2. Về đến nhà, T đọc các giấy tờ cá nhân và biết được người nhờ xin giúp xét tuyển đặc cách vào viên chức tháng 12/2022 tên là Triệu Thị N2, sinh năm 1982, giáo viên hợp đồng trường mầm non H, huyện Y, đọc xong, T vứt bỏ tờ giấy trên vào sọt đựng rác của gia đình.
Ngày 20/12/2022, N2 sử dụng tài khoản số 8102215015129 của N2 mở tại ngân hàng A1 để chuyển khoản số tiền 90.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng V, số [...] của T1; ngày 21/12/2022 chuyển 30.000.000 đồng; ngày 22/12/2022 chuyển 20.000.000 đồng. Sau khi tài khoản nhận được tiền, T1 rút lấy tiền mặt; chiều ngày 22/12/2022 T1 và T hẹn gặp nhau tại vòng xuyến đầu cầu T, T1 đã đưa hết cho T số tiền 140.000.000 đồng vừa nhận của N2 và 10.000.000 đồng T1 giữ lại trước đó. Sau khi nhận tiền T không chia cho T1 đồng nào; không đưa cho ai, không nhờ ai xin việc hay giúp gì cho N2.
Nhuận chờ đợi đến hết tháng 12/2022, nhưng không thấy có đợt xét tuyển đặc cách viên chức nào, không thấy cơ quan, tổ chức báo, gọi... nên đã yêu cầu T1 trả lại tiền, T1 nói cho T biết việc T1 đòi lại tiền, T hứa hẹn sẽ lo được cho N2 thi đỗ viên chức vào đợt tháng 8/2023, mục đích của T là cứ để N2 tự lực thi trong kỳ thi tuyển đợt tháng 8/2023, nếu đỗ thì T sẽ chiếm đoạt số tiền 200.000.000 đồng; Sau đó, T1 nói lại với N2 và hứa sẽ có trách nhiệm lo cho N2 thi đỗ viên chức tháng 8/2023. Tin tưởng T1 nên N2 đồng ý. Sau khi có kết quả kỳ thi tuyển viên chức tháng 8/2023, Ủy ban nhân dân huyện Y công bố kết quả, nhưng N2 không trúng tuyển nên N2 đã yêu cầu T1 trả lại số tiền chạy việc trên. T1 nói lại cho T biết việc N2 đòi lại tiền để T thu xếp trả lại cho N2, nhưng T viện ra nhiều lý do để trốn tránh, không trả lại tiền cho N2. Đến tháng 7/2024, N2 nói với T1 nếu không trả lại tiền, N2 sẽ làm đơn trình báo sự việc gửi đến cơ quan các cấp có thẩm quyền. T1 thông báo lại nội dung cho T biết, T đưa cho T1 50.000.000 đồng để trả lại cho N2, ngày 07/8/2024, sau khi trao đổi với N2, T1 đã gửi và nhờ chị Lưu Thị N3, giáo viên trường mầm non Đ1 Viện cầm đưa cho N2 số tiền 50.000.000 đồng; ngày 08/8/2024, chị N3 lại gửi nhờ chị Trần Yến N4, sinh năm 2003, trú tại thôn Đ, xã T, huyện Y cầm đưa cho N2 số tiền trên. Đối với số tiền còn lại 150.000.000 đồng, N2 tiếp tục yêu cầu T1 trả lại nhưng T1 không trả, đến ngày 10/8/2024 N2 làm đơn tố giác nội dung vụ việc trên đến Cơ quan CSĐT - Công an huyện Y.
Trước Cơ quan điều tra, Lưu Thị T1 khai nhận: T1 là người trực tiếp gặp gỡ chị N2 và đưa ra các thông tin gian dối, hứa hẹn sẽ giúp cho chị N2 được xét tuyển đặc cách vào viên chức nghành giáo dục mầm non kỳ tháng 12/2022. Vì muốn được tuyển dụng vào viên chức vào ngành giáo dục và tin tưởng mối quan hệ quen biết nên N2 đã đưa cho T1 số tiền 200.000.000 đồng; Số tiền nhận được của N2, T1 đã đưa hết cho Trần Thanh T và mong muốn T sẽ chia lại cho T1 một phần. Sau khi biết không có đợt xét tuyển đặc cách nào vào viên chức ngành giáo dục mầm non năm 2022, N2 đã yêu cầu T1 trả lại tiền, nhưng T1 tiếp tục viện cớ, đưa ra thông tin và hứa hẹn sẽ tiếp tục lo giúp N2 thi đỗ viên chức vào đợt tháng 8/2023. Tuy nhiên đây cũng chỉ là những thông tin không đúng, mục đích để cho N2 tin tưởng mà không đòi tiền; bản thân T1 biết rõ mình không có khả năng giúp được cho chị N2 như đã hứa. Lời khai nhận tội của Lưu Thị T1 phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ.
Đến ngày 06/01/2025, biết không thể trốn tránh được hành vi phạm tội của bản thân, Trần Thanh T đã đến Cơ quan CSĐT - Công an huyện Y đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của Triệu Thị N2.
Tại Kết luận giám định số 262 ngày 12/02/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh T giám định âm thanh đối với 01 file ghi âm cuộc trò chuyện giữa Triệu Thị N2 và Lưu Thị T1 và 05 đoạn video quay lại cuộc trò chuyện giữa Lưu Thị T1 và Trần Thanh T, do N2, T1 giao nộp. Kết luận:
Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong các mẫu cần giám định ký hiệu từ A1 đến A6.
Tiếng nói của người phụ nữ trong mẫu cần giám định ký hiệu A1, được ký hiệu “Nữ 1” trong bản dịch nội dung mẫu cần giám định và giọng nói của Triệu Thị N2 trong mẫu so sánh ký hiệu M1 là của cùng một người.
Tiếng nói của người phụ nữ trong mẫu cần giám định ký hiệu A1 đến A6, được ký hiệu “Nữ 2” trong bản dịch nội dung mẫu cần giám định và giọng nói của Lưu Thị T1 trong mẫu so sánh ký hiệu M2 là của cùng một người.
Tiếng nói của người đàn ông trong mẫu cần giám định ký hiệu A2 đến A6, được ký hiệu “Nam 1” trong bản dịch nội dung mẫu cần giám định và giọng nói của Trần Thanh T trong mẫu so sánh ký hiệu M3 là của cùng một người.
Nội dung âm thanh trong mẫu cần giám định ký hiệu từ A1 đến A6 đã được dịch thành văn bản.
Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã:
Thu giữ của Triệu Thị N2: 01 giấy biên nhận vay tiền ngày 16/12/2022; 01 Bản sao kê chi tiết giao dịch ngân hàng A1 tài khoản của chị N2 đang sử dụng; Bản phô tô tin nhắn trò truyện qua Facebook và Z giữa Triệu Thị N2 và Lưu Thị T1 gửi kèm theo đơn tố giác; 01 (một) đĩa DVD-R có dung lượng 4.7GB 16X, bên trong chứa 01 file ghi âm cuộc trò chuyện giữa Triệu Thị N2 và Lưu Thị T1 có tên “E Tú Mn-2408031912 (2).arm".
Thu giữ của Lưu Thị T1: 01 giấy biên nhận tiền ngày 16/9/2024; 01 Bản sao kê chi tiết giao dịch ngân hàng V tài khoản của T1 đang sử dụng; 01 (một) thẻ nhớ nhãn hiệu DSS, có dung lượng 64GB, bên trong chứa 05 đoạn video quay lại cuộc trò chuyện giữa Lưu Thị T1 và Trần Thanh T.
Đối với túi đựng hồ sơ và tờ giấy ghi thông tin cá nhân của chị Triệu Thị N2, Trần Thanh T đã vứt bỏ vào bãi rác công cộng và sọt rác từ năm 2022 nên không có căn cứ để tiến hành xác minh, truy tìm.
* Về trách nhiệm dân sự: Ngày 07/8/2024, Lưu Thị T1 và Trần Thanh T đã tự nguyện trả lại cho chị Triệu Thị N2 số tiền 50.000.000 đồng; Ngày 16/9/2024, T1 và T tiếp tục trả lại cho chị N2 số tiền 150.000.000 đồng, bị cáo T1 tự nguyện bồi thường thêm cho chị N2 số tiền 50.000.000 đồng để chị N2 trả tiền lãi suất ngân hàng trong thời gian T1 chưa trả lại tiền cho chị N2. Triệu Thị N2 đã nhận tổng số tiền 250.000.000 đồng và không yêu cầu, đề nghị gì về phần dân sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 40/2025/HS-ST ngày 25 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang đã quyết định:
Tuyên bố: Các bị cáo Trần Thanh T và Lưu Thị T1 phạm tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Căn cứ: Điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt: Bị cáo Trần Thanh T 04 (Bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Căn cứ: Điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s, v khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt: Bị cáo Lưu Thị T1 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 07 tháng 5 năm 2025, bị cáo Trần Thanh T có đơn kháng cáo với nội dung xin miễn chấp hành hình phạt tù, được hưởng án treo; bị cáo Lưu Thị T1 có đơn kháng cáo xin giảm hình phạt, miễn chấp hành phạt tù, được hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo xin giảm hình phạt và được hưởng án treo.
Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng đảm bảo đúng quy định pháp luật, đơn kháng cáo của các bị cáo hợp lệ trong hạn luật định; thủ tục giải quyết vụ án đúng trình tự tố tụng.
Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết liên quan đến vụ án, đánh giá mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ để xử phạt các bị cáo Trần Thanh T 04 năm tù, Lưu Thị T1 03 năm 06 tháng tù là đúng người, đúng tội. Tại phiên tòa phúc thẩm, ngoài các tình tiết giảm nhẹ mà cấp sơ thẩm đã áp dụng, các bị cáo cung cấp thêm tình tiết mới:
Bị cáo Trần Thanh T xuất trình đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có xác nhận của chính quyền địa phương đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt; Công an xã L xác nhận bị cáo nhặt được 01 ví da đã đến trụ sở trình báo; Huy chương kháng chiến hạng nhất, hạng nhì; huy hiệu 30 năm, 50 tuổi đảng và bằng khen có nhiều cống hiến cho sự nghiệp giáo dục bồi dưỡng thế hệ trẻ của ông Trần Văn N và bà Trần Thị T2 (là bố mẹ đẻ bị cáo). Bị cáo Lưu Thị T1 xuất trình công văn đề nghị xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của Trường mầm non K; Đơn xin giảm nhẹ được Ủy ban nhân dân xã K xác nhận đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt; ông Lưu Ngọc N1 (bố đẻ bị cáo) được tặng nhiều bằng khen, giấy khen và Huy hiệu 40 năm tuổi đảng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra cả hai bị cáo đã nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm về hình phạt như sau:
Căn cứ: Điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 54; Điều 38; Điều 65 của Bộ luật Hình sự (đối với bị cáo T1 áp dụng thêm điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự)
Xử phạt: Bị cáo Trần Thanh T 03 năm tù, cho hưởng án treo, bị cáo Lưu Thị T1 02 năm 06 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách của các bị cáo là 05 năm và thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (27/6/2025). Giao các bị cáo Trần Thanh T, Lưu Thị T1 cho Ủy ban nhân dân nơi các bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Ghi nhận các bị cáo Trần Thanh T, Lưu Thị T1 đã nộp án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, khi nói lời sau cùng các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho các bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Trần Thanh T và Lưu Thị T1 tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với vật chứng đã thu giữ, lời khai của bị hại cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở để kết luận.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Nhận thức rõ bản thân không có chức năng, nhiệm vụ quyền hạn trong việc tuyển dụng viên chức vào ngành giáo dục trên địa bàn huyện Y, tỉnh Tuyên Quang, nhưng lợi dụng mối quan hệ quen biết với chị Triệu Thị N2, sinh năm 1982, trú tại thôn N, xã T (là giáo viên hợp đồng trường mầm non H); bằng thủ đoạn gian dối, hứa hẹn sẽ xin, giúp cho chị Triệu Thị N2, được xét đặc cách tuyển dụng viên chức ngành giáo dục Mầm non huyện Y: Trong khoảng thời gian từ đầu tháng 12/2022 đến ngày 22/12/2022, trên địa bàn xã T, huyện Y; Trần Thanh T, trú tại tổ E, phường A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang (thời điểm này đang là cán bộ cơ quan Bảo hiểm xã hội huyện Y) và Lưu Thị T1, trú tại thôn L, xã T, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang (là giáo viên trường mầm non K), đã có hành vi lừa đảo chiếm đoạt của chị Triệu Thị N2 số tiền 200.000.000 đồng.
[2] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương, trình tự và thủ tục thực hiện việc tuyển dụng viên chức của ngành giáo dục trên địa bàn huyện Y. Bản thân các bị cáo đều có năng lực hành vi nhưng vẫn cố ý tình thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt của bị hại Triệu Thị N2 số tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng).
[3] Xét kháng cáo của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thanh T 04 (B) năm tù, Lưu Thị T1 03 (Ba) năm 06 (S) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo Trần Thanh T xuất trình: Huy chương kháng chiến hạng Nhì, Bằng khen của Ban đã có nhiều cống hiến cho sự nghiệp giáo dục bồi dưỡng thế hệ trẻ và xây dựng tổ chức Đoàn, Huy hiệu 30 năm tuổi Đảng của ông Trần Văn N; Huy chương kháng chiến hạng Nhất, Bằng khen của Ban đã có nhiều cống hiến cho sự nghiệp giáo dục bồi dưỡng thế hệ trẻ và xây dựng tổ chức Đoàn, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng, Phiếu khám bệnh và kết quả khám bệnh của bà Trần Thị T2; Giấy ra viện, Đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có xác nhận của tổ dân phố 5 và UBND phường A đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T, chính quyền địa phương sẽ phối hợp giáo dục tại địa phương trong thời gian chấp hành án. Đơn xác nhận, Biên bản giao nhận, T4 cảm ơn bị cáo đã nhặt và trả ví, giấy tờ (bên trong có tiền mặt 18.000.000đồng) là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Lưu Thị T1 xuất trình: Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng, Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh T5, Giấy khen của Chủ tịch UBND huyện Y tặng ông Lưu Ngọc N1 (bố đẻ bị cáo); bị cáo Lưu Thị T1 được Chủ tịch UBND huyện Y tặng Danh hiệu Chiến sỹ thi đua cơ sở và Danh hiệu Lao động tiên tiến nhiều năm liên tục; Giấy khen của Ban T6 đã có thành tích trong tham gia cuộc thi trực tuyến; Công văn đề nghị xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của Hiệu trưởng Trường Mầm non K, Đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của Lưu Thị T1 có xác nhận và đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, chính quyền địa phương sẽ phối hợp giáo dục tại địa phương trong thời gian chấp hành án, là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xét thấy các bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, hành vi phạm tội đồng phạm giản đơn, không có tính chất tổ chức, không có sự bàn bạc, phân công; có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng. Do đó Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của các bị cáo. giảm một phần hình phạt tù và cho các bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
[4] Về án phí hình sự phúc thẩm, kháng cáo được chấp nhận, do đó các bị cáo Trần Thanh T và Lưu Thị T1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Thanh T và Lưu Thị T1, sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 40/2025/HS-ST ngày 25 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang về phần hình phạt đối với các bị cáo Trần Thanh T và Lưu Thị T1 như sau:
Căn cứ: Điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 54; Điều 38; Điều 65 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt: Bị cáo Trần Thanh T 03 (Ba) năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (Năm) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (27/6/2025).
Giao bị cáo Trần Thanh T cho Ủy ban nhân dân phường A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Căn cứ: Điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s, v khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 54; Điều 38; Điều 65 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt: Bị cáo Lưu Thị T1 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (Năm) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (27/6/2025).
Giao bị cáo Lưu Thị T1 cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Trần Thanh T và Lưu Thị T1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Ghi nhận bị cáo Trần Thanh T đã nộp xong 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm tại Biên lai thu tiền số 0001580 ngày 19/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Sơn. Ghi nhận bị cáo Lưu Thị T1 đã nộp xong 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm tại Biên lai thu tiền số 0001581 ngày 19/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Sơn.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án, ngày 27/6/2025./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Ma Hồng Thắng |
Bản án số 26/2025/HS-PT ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG về vụ án hình sự phúc thẩm (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 26/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thanh T, Lưu Thị T1 - Phạm tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
