|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 26/2025/HS-PT Ngày: 24-6-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Viết Hoà
Các Thẩm phán: Bà Lê Hồng Hạnh
Ông Phạm Tiến Hiệp
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Công Thành Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên Tòa: Ông Bùi Văn Thi - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xét xử phúc thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 39/2025/TLPT-HS ngày 22 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo Đỗ Thị H và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2025/HS-ST ngày 14 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.
Các bị cáo có kháng cáo:
1. Đỗ Thị H, giới tính: Nữ; sinh năm 1982, tại tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: Thôn H, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: làm rẫy; trình độ văn hoá: 01/12; con ông Đỗ Văn Ư (đã chết) và bà Nguyễn Thị D (đã chết); có chồng là Đỗ Thanh H1 (đã ly hôn); Bị cáo có 02 người con, sinh năm 2005 và năm 2009; bị cáo có 05 chị em ruột, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: (Ngày 23/09/2013, bị cao bị TAND huyện huyện Bù Đăng xử phạt 04 tháng 15 ngày tù giam về tội “Đánh bạc” theo Bản án số 101/2013/HSST. Đến ngày 27/08/2021, bị cáo bị TAND huyện Bù Đăng xử phạt 06 tháng tù giam về tội “Đánh bạc” theo Bản án số 64/2021/HSST. Đến nay, bị cáo đã chấp hành xong 02 bản án trên); bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 25/9/2024 đến ngày 04/10/2024 bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
2. Nông Văn T, giới tính: Nam; sinh năm 1981, tại tỉnh Lạng Sơn; Nơi cư trú: Thôn B, xã N, huyện B, tỉnh Bình Phước; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; tôn giáo: không; nghề nghiệp: làm rẫy; trình độ văn hoá: 3/12; con ông Nông Văn N (đã chết) và bà Vi Thị T1; có vợ là Lâm Thị M, sinh năm: 1992; bị cáo có 03 con, lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2004; bị cáo có 05 anh chị em ruột, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Tiền án: không; Tiền sự: 01 (Ngày 26/02/2024, bị cáo bị Công an xã T, huyện B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 04/QĐ-XPVPHC với số tiền 1.500.000 đồng, bị cáo đã chấp hành xong nhưng chưa được xóa tiền sự); bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 25/9/2024 đến ngày 23/10/2024 được áp dụng biện pháp Bảo lĩnh. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
3. Nguyễn Thị Đ; giới tính: Nữ; sinh năm 1988, tại tỉnh Bắc Kạn; Nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; tôn giáo: không; nghề nghiệp: làm rẫy; trình độ văn hoá: 10/12; con ông Nguyễn Văn Q (đã chết) và bà Triệu Thị L; có chồng là Lại Văn H2, sinh năm: 1985; bị cáo có 02 người con, sinh năm 2006 và sinh năm 2015; bị cáo có 03 chị em, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình; Tiền án: không; Tiền sự: 01 (Ngày 26/02/2024, bị cáo bị Công an xã T, huyện B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 03/QĐ-XPVPHC với số tiền 1.500.000 đồng, bị cáo đã chấp hành xong quyết định xử phạt nhưng chưa được xóa tiền sự); bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04/10/2024 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
4. Vi Thị S; giới tính: Nữ; sinh năm 1982, tại tỉnh Lạng Sơn; Nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; tôn giáo: không; nghề nghiệp: làm rẫy; trình độ văn hoá: 04/12; con ông Vi Văn H3 và bà Nông Thị B; có vợ là Dương Văn Đ1, sinh năm 1982; bị cáo có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2009; bị cáo có 05 chị em, bị cáolà con lớn nhất trong gia đình; Tiền án: không; Tiền sự: 01 (Ngày 26/02/2024, bị cáo bị Công an xã T, huyện B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 02/QĐ-XPVPHC với số tiền 1.500.000 đồng, bị cáo đã chấp hành xong nhưng chưa được xóa tiền sự); Nhân thân: (Ngày 25/3/2022, bị cáo bị Công an huyện B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 07/QĐ-XPVPHC với số tiền 1.500.000 đồng, bị cáo đã chấp hành xong và được xóa tiền sự); bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 25/9/2024 đến ngày 23/10/2024 được áp dụng biện pháp Bảo lĩnh. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Ngoài ra, còn 05 bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ 00 ngày 25/9/2024, tại chòi rẫy của Thiệu Văn T2, thuộc thôn B, xã N, huyện B, tỉnh Bình Phước có 09 người gồm: Thiệu Văn T2, Phạm Văn S1, Nông Văn T, Hoàng Thị S2, Đỗ Thị H, Vi Thị S, Đỗ Thị T3, Đỗ Thị C và Nguyễn Thị Đ đang có hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức đánh “Cào liêng” thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B phối hợp với Công an xã N và Phòng C1 - Công an tỉnh B tiến hành kiểm tra và bắt quả tang. Sau đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đồng thời tạm giữ đồ vật, tài liệu, tài sản liên quan đến việc đánh bạc để điều tra xử lý theo quy định pháp luật gồm:
Số tiền 18.450.000 đồng (trong đó: số tiền 700.000 đồng trong ấm nước; số tiền 17.750.000 đồng trên chiếu bạc và trên người các đối tượng); 52 lá bài tây đang sử dụng; 02 bộ bài tây chưa sử dụng; 01 ấm đựng nước bằng kim loại; 01 chiếu cói có hoa văn.
05 xe mô tô các loại gồm: (93H8 - 2015; 93K1 – 2820; 93H8 – 5379; 93L1 – 637.30 và 93L1 – 503.99).
Khi đánh bạc, các con bạc sử dụng số tiền vào việc đánh bạc, như sau: Thiệu Văn T2 sử dụng 1.800.000 đồng để đánh bạc, thắng 100.000 đồng; Phạm Văn S1 sử dụng 2.000.000 đồng để đánh bạc, thắng 400.000 đồng; Nông Văn T sử dụng 1.400.000 đồng để đánh bạc, thua 1.300.000 đồng; Đỗ Thị C sử dụng 4.800.000 đồng để đánh bạc, thua số tiền 850.000 đồng; Đỗ Thị T3 sử dụng 1.500.000 đồng để đánh bạc, thắng 1.000.000 đồng; Đỗ Thị H mang theo số tiền 3.000.000 đồng và sử dụng 1.000.000 đồng để đánh bạc, thắng được số tiền 1.900.000 đồng; Hoàng Thị S2 sử dụng 750.000 đồng để đánh bạc, thua số tiền 300.000 đồng; Nguyễn Thị Đ sử dụng 1.700.000 đồng để đánh bạc, thua số tiền 900.000 đồng; Vi Thị S sử dụng 1.500.000 đồng để đánh bạc, thua số tiền 1.300.000 đồng.
Tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc là 16.450.000 đồng
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2025/HS-ST ngày 14 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước quyết định:
Tuyên bố các bị cáo Đỗ Thị H, Nông Văn T, Nguyễn Thị Đ, Vi Thị S phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Đỗ Thị H 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/9/2024 đến ngày 04/10/2024.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nông Văn T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/9/2024 đến ngày 23/10/2024
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Vi Thị S bị cáo 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/9/2024 đến ngày 23/10/2024.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Đ 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bổ sung bị cáo Đỗ Thị C, Nguyễn Thị Đ, Nông Văn T, Đỗ Thị H, Hoàng Thị S2, Vi Thị S, mỗi bị cáo phải nộp 10.000.000 đồng.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng; nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 17/4/2025, các bị cáo Đỗ Thị H, Nông Văn T, Nguyễn Thị Đ, Vi Thị S có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm cho các bị cáo hưởng án treo và miễn hình phạt bổ sung.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo Đỗ Thị H có đơn xin rút toàn bộ nội dung kháng cáo.
- Các bị cáo Nông Văn T, Nguyễn Thị Đ, Vi Thị S đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo hưởng án treo và miễn hình phạt bổ sung.
- Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại phiên toà phúc thẩm: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo và miễn hình phạt bổ sung của các bị cáo Nông Văn T, Nguyễn Thị Đ, Vi Thị S, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm 42/2025/HS-ST ngày 14 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của các bị cáo Đỗ Thị H, Nông Văn T, Nguyễn Thị Đ, Vi Thị S được thực hiện trong thời hạn luật định, có hình thức và nội dung phù hợp với quy định tại các điều 331, 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên đủ điều kiện giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Trước khi phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đỗ Thị H đã rút toàn bộ kháng cáo.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm:
Xét việc rút kháng cáo của bị cáo Đỗ Thị H là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc phù hợp với quy định của pháp luật nên HĐXX căn cứ đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với các yêu cầu kháng cáo của bị cáo Đỗ Thị H.
Các bị cáo Nông Văn T, Nguyễn Thị Đ, Vi Thị S thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình là đúng với những nội dung mà Bản án sơ thẩm đã xác định. Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp với lời khai của các bị cáo khác đã khai tại cơ quan Điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm; phù hợp với Biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang; với Biên bản khám nghiệm hiện trường, Kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 25/9/2024, Thiệu Văn T2, Phạm Văn S1, Nông Văn T, Hoàng Thị S2, Đỗ Thị H, Vi Thị S, Đỗ Thị T3, Đỗ Thị C và Nguyễn Thị Đ đang có hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức đánh “Cào liêng” với tổng số tiền đánh bạc là 16.450.000 đồng tại chòi rẫy của Thiệu Văn T2 ở thôn B, xã N, huyện B, tỉnh Bình Phước thì bị Công an huyện B phối hợp với Công an xã N phát hiện bắt quả tang người cùng tang vật. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên bố các bị cáo Đỗ Thị H, Nông Văn T, Nguyễn Thị Đ, Vi Thị S phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
[3] Xét kháng cáo xin được hưởng án treo và miễn hình phạt bổ sung của các bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng:
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc, sát phạt nhau. Hành vi của các bị cáo đã gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo có nhân thân xấu, đều đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc nhưng không chấp hành tốt quy định của pháp luật mà tiếp tục phạm tội. Tòa ấp sơ thẩm áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo đồng thời tuyên phạt bổ sung mỗi bị cáo 10 triệu đồng là đúng quy định của pháp luật và tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội đã gây ra, đồng thời đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.
Tại phiên toà phúc thẩm, các bị cáo đều nêu hoàn cảnh gia đình khó khăn để xin hưởng án treo nhưng như nhận định ở trên, việc buộc các bị cáo chấp hành hình phạt tù và hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo là cần thiết. Vì vậy, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo và miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo, cần giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 42/2025/HS-ST ngày 14 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước đối với các bị cáo Nông Văn T, Nguyễn Thị Đ, Vi Thị S.
[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Án phí hình sự phúc thẩm: kháng cáo của các bị cáo Nông Văn T, Nguyễn Thị Đ, Vi Thị S không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Bị cáo Đỗ Thị H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[6] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 và Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,
1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Đỗ Thị H phạm tội “Đánh bạc”. Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2025/HS-ST ngày 14 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước đối với bị cáo Đỗ Thị H có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 24/6/2025.
2. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nông Văn T, Nguyễn Thị Đ, Vi Thị S về việc xin hưởng án treo và miễn hình phạt bổ sung:
Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2025/HS-ST ngày 14 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước về hình phạt và hình phạt bổ sung.
Tuyên bố các bị cáo Nông Văn T, Nguyễn Thị Đ, Vi Thị S phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nông Văn T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/9/2024 đến ngày 23/10/2024
Xử phạt bị cáo Vi Thị S bị cáo 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/9/2024 đến ngày 23/10/2024.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Đ 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thị Đ, Nông Văn T, Vi Thị S, mỗi bị cáo 10.000.000 (Mười triệu) đồng sung quỹ nhà nước.
3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Nông Văn T, Nguyễn Thị Đ, Vi Thị S mỗi cá nhân phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Bị cáo Đỗ Thị H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Viết Hoà |
Bản án số 26/2025/HS-PT ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC về đánh bạc
- Số bản án: 26/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: các bị cáo Đỗ Thị Hoa, Nông Văn Thiết, Nguyễn Thị Điệp, Vi Thị Sỹ phạm tội “Đánh bạc”.
