TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 34/2025/HS-PT Ngày: 26 - 3 -2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Công Hoàn
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Tâm
Ông Hoàng Rung K'Nhơn
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Quốc Huy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Đào - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 28/2025/TLPT-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo Trần Quốc T và Vũ Viết T1 do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số: 99/2024/HS-ST ngày 27 tháng 12 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.
- Bị cáo có kháng cáo:
- Họ và tên: Trần Quốc T, sinh năm: 1988 tại: Hà Tĩnh; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Thôn H, xã G, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T2 và bà: Lê Thị T3; vợ: Hồ Thị D và có 02 con, lớn nhất sinh năm 2018, nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 10-01-2014 bị Công an huyện D xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
- Tại Bản án số: 30/2014/HSST ngày 25-6-2014 bị Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 06 (S) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Tại Quyết định số 49/QĐ-XPKLBB ngày 07-9-2021 bị Công an huyện D xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17-6-2024 đến ngày 26-6-2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
- Họ và tên: Vũ Viết T1, sinh năm: 1991 tại Lâm Đồng; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Thôn G, xã G, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Viết T4 và bà: Thân Thị H; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân:
- Tại Bản án số: 09/2010/HSST ngày 03-02-2010 bị Tòa án nhân dân huyện Di Linh xử phạt 03 (Ba) năm tù, về tội “Cướp tài sản”.
- Tại Bản án số 112/2012/HSST ngày 31-8-2012 bị Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng, xử phạt 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản".
- Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 80/QĐ-XPHC ngày 26-10-2012 bị công an huyện D xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông số tiền: 2.660.000 đồng.
- Tại Bản án số: 141/2014/HSST ngày 29-9-2014 bị Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Tại Bản án số: 71/2014/HS-ST ngày 12-12-2014 bị Tòa án nhân dân huyện Đăk R'Lấp, tỉnh Đăk Nông xử phạt 03 (Ba) năm tù, về tội: “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt 36 tháng tù, về tội: “Trộm cắp tài sản” (Bản án số: 141/2014/HSST của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng). Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là: 06 (S) năm tù
- Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 923/QĐ-XPHC ngày 17-9-2021 bị công an thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 3.000.000 đồng về hành vi: “Sử dụng công cụ hỗ trợ không có giấy phép”
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt
Trong vụ án còn có bị hại nhưng không kháng cáo, vụ án không bị kháng nghị; không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 06-6-2024 Trần Quốc T cùng với một người tên L (Chưa rõ nhân thân lai lịch là người cùng sử dụng ma túy T), gặp nhau ở Quốc lộ B tại khu vực thôn B, xã G thì T cùng bàn bạc với L đi trộm cắp tài sản cả hai đồng ý. Sau khi bàn bạc xong, L cầm theo 01 thanh kim loại dài khoảng 50cm và 01 Kìm bấm màu trắng, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave RS không gắn biển số chở L đến gặp Vũ Viết T1 tại thôn G, xã G, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Khi gặp T1 thì T mượn xe mô tô Wave Blade biển số 49G1- 540.26 của T1 và nói đi công việc nên T1 đồng ý cho mượn, sau khi mượn được xe thì T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave RS không gắn biển số, L điều khiển xe Wave Blade biển số 49G1-540.26 cùng đi đến vườn cà phê của ông Dương Đình L1, tại: Thôn A, xã G, huyện D, tỉnh Lâm Đồng thì phát hiện chòi canh cà phê của ông L1 không có ai trộng coi, cửa khóa. T sử dụng thanh kim loại và kềm bấm bẻ khoen khóa cửa rồi T và L cùng đi vào trong chòi, T và L trộm cắp được số tài sản gồm: 01 béc tưới nước; 05kg đồng từ trong 01 máy phát điện; 01 bộ máy xịt thuốc gắn trên 01 khung kim loại gồm: 01 mô tơ điện màu đen và 01 đầu phun hiệu OKAYAMA màu đỏ; 100 mét dây xịt thuốc màu vàng nhãn hiệu MOTOKAWA có gắn kèm 01 súng phun gắn trên 01 khung kim loại; 01 máy phát cỏ nhãn hiệu Mitsubishi CL23 màu cam; 100 mét dây điện.
Sau khi lấy xong, T và L chở về kho của Vũ Viết T1 tại thôn G, xã G, huyện D gặp T1 để trả xe cho T1; T nhờ T1 gửi và bán các tài sản vừa trộm cắp được; T1 hỏi tài sản ở đâu mà có thì T nói lấy trộm ở trong xã G thì T1 đồng ý; L và T khiêng số tài sản trộm cắp được vào trong kho bơ của T1. Riêng cuộn dây điện, T1 không đồng ý để lại vì phải đốt dây để lấy lõi đồng bên trong nên L mang cuộn dây điện cùng kìm bấm đi, đối với cây sắt thì T vứt bỏ trên đường đi về nhà.
Đến ngày 17-6-2024 Trần Quốc T đã đến Công an xã G đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Vật chứng thu giữ: 01 béc tưới nước; 05 Kg đồng; 01 bộ máy xịt thuốc gắn trên 01 khung kim loại (Gồm 01 mô tơ điện màu đen và 01 đầu phun hiệu OKAYAMA màu đỏ); 100 mét dây màu vàng loại sử dụng để phun thuốc nhãn hiệu MOTOKAWA có gắn kèm 01 súng phun, được gắn trên 01 khung kim loại; 01 máy phát cỏ nhãn hiệu Mitsubishi CL23 màu cam đối với những vật chứng này Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng cách trả lại cho người bị hại là ông Dương Đình L1; 01 xe mô tô mô tô nhãn hiệu Wave RS màu xanh lá cây, không gắn biển kiểm soát; 01 xe mô tô Wave Blade màu đen, biển kiểm soát 49G1- 540.26 của Vũ Viết T1 đã chuyển sang Chi cục thi hành án dân sự huyện Di Linh để đảm bảo cho việc truy tố, xét xử và thi hành án sau.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 379/KL-HĐĐGTS ngày 20-6-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện D kết luận: 01 béc tưới nước có giá trị 1.166.666 đồng; 05kg đồng có giá trị 1.066.666 đồng; 01 bộ máy xịt thuốc gắn trên 01 khung kim loại (Gồm 01 mô tơ điện màu đen và 01 đầu phun hiệu OKAYAMA màu đỏ) có giá trị 2.906.666 đồng; 100 mét dây màu vàng loại sử dụng để phun thuốc nhãn hiệu MOTOKAWA có gắn kèm 01 súng phun, được gắn trên 01 khung kim loại có giá trị 1.193.333 đồng; 01 máy phát cỏ nhãn hiệu Mitsubishi CL23 màu cam có giá trị 1.883.333 đồng; 100m dây điện có giá trị 3.600.000 đồng. Tổng giá trị tài sản T1 cùng L chiếm đoạt được có trị giá là 11.816.664 đồng.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Trần Quốc T và Vũ Viết T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Bản cáo trạng số: 80/CT-VKS ngày 27-9-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng đã: Truy tố Trần Quốc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Vũ Viết T1 về tội: “Chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tôi mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số: 99/2024/HS-ST ngày 27 tháng 12 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng đã tuyên xử:
Tuyên bố bị cáo Trần Quốc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Tuyên bố bị cáo Vũ Viết T1 phạm tội: “Chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Quốc T 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án (Được trừ thời gian tạm giam từ ngày 17-6-2024 đến ngày 26-6-2024 vào thời gian chấp hành án)
- Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Viết T1 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Cùng ngày 02-01-2025 bị cáo Trần Quốc T và Vũ Viết T1 có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Trần Quốc T và Vũ Viết T1 giữ nguyên, không thay đổi, bổ sung gì khác so với nội dung đơn kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:
Các bị cáo đều thuộc trường hợp nhân thân xấu, kháng cáo không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới. Án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội và xử phạt mức án phạt tù đối với hai bị cáo là phù hợp. Đề nghị căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Quốc T, Vũ Viết T1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện tại giai đoạn sơ thẩm là hợp pháp.
[2] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của hai bị cáo đúng về hình thức, nội dung, trong thời hạn kháng cáo nên hợp lệ, đủ cơ sở để xem xét theo trình tự, thủ tục phúc thẩm.
[3] Về tội danh:
Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đề cập, lời khai của các bị cáo phù hợp lời khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm; phù hợp lời khai người bị hại; kết luận định giá tài sản và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên án sơ thẩm kết luận:
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 06-6-2024 tại khu vực vườn cà phê của ông Dương Đình Đại L1, lợi dụng sự vắng mặt ông L1; Trần Quốc T cùng với một người tên L (Chưa rõ nhân thân lai lịch là người cùng sử dụng ma túy T) đã lén lút sử dụng thanh kim loại và kềm bấm bẻ khoen khóa cửa rồi T và L cùng đi vào trong chòi, T và L trộm cắp các tài sản thuộc quyền sử dụng của ông L1 bao gồm: 01 béc tưới nước; 05kg đồng từ trong 01 máy phát điện; 01 bộ máy xịt thuốc gắn trên 01 khung kim loại gồm: 01 mô tơ điện màu đen và 01 đầu phun hiệu OKAYAMA màu đỏ; 100 mét dây xịt thuốc màu vàng nhãn hiệu MOTOKAWA có gắn kèm 01 súng phun gắn trên 01 khung kim loại; 01 máy phát cỏ nhãn hiệu Mitsubishi CL23 màu cam; 100 mét dây điện. Sau khi lấy được các tài sản trên, thì T và L chở về kho bơ của Vũ Viết T1 tại thôn G, xã G, huyện D cất giữ. Lúc này, Vũ Viết T1 được T cho biết các tài sản trên do trộm cắp mà có nhưng vẫn đồng ý để T và L cất giữ trái phép. Tổng giá trị tài sản trộm cắp theo kết luận định giá có trị giá là 11.816.664 đồng.
Xét bị cáo Trần Quốc T và Vũ Viết T1 có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo T nhận thức rõ tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của công dân được pháp luật bảo hộ, nghiêm cấm xâm phạm; bị cáo T1 nhận thức rõ tài sản do bị cáo T trộm cắp mà có, việc chứa chấp sẽ làm mất trật tự, an toàn xã hội; gián tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác nhưng các bị cáo chỉ vì lòng tham, tự lợi, lười lao động mà đã cố ý thực hiện hành vi chiếm đoạt, chứa chấp như hành vi đã được nêu trên. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáo Trần Quốc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, kết án bị cáo Trần Viết T5 về tội “Chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội danh.
[5] Về hình phạt và kháng cáo:
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tính chất mức độ phạm tội tuy ít nghiêm trọng nhưng trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản; trật tự công cộng, gây mất an ninh trị an tại địa phương. Khi quyết định hình phạt, cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo T các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s, khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; áp dụng cho bị cáo T5 các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là đầy đủ và đảm bảo. Hai bị cáo đều có nhân thân xấu thể hiện qua sự việc nhiều lần bị xử phạt hành chính, xử lý trách nhiệm hình sự, không đủ điều kiện quyết định hình phạt khác nên án sơ thẩm đã xử phạt hai bị cáo hình phạt tù, trong đó phạt bị cáo T 18 tháng tù, bị cáo T5 15 tháng tù là đánh giá đúng tính chất mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội gây ra của từng bị cáo.
Hai bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng giai đoạn phúc thẩm không xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới hoặc đưa ra tình tiết nào mới để giảm nhẹ hơn trách nhiệm hình sự. Do đó, không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của hai bị cáo mà cần giữ nguyên mức án tù cấp sơ thẩm đã tuyên theo như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng để răn đe, giáo dục riêng đối với hai bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội, tránh gây nguy hiểm cho cộng đồng.
[6] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[7] Về các vấn đề khác:
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xét và có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Quốc T và Vũ Viết T1. Giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.
Tuyên xử:
- Về tội danh và hình phạt:
- Tuyên bố bị cáo Trần Quốc T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Quốc T 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án (Được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 17-6-2024 đến ngày 26-6-2024 vào thời gian chấp hành án). - Tuyên bố bị cáo Vũ Viết T1 phạm tội “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Viết T1 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
- Tuyên bố bị cáo Trần Quốc T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Trần Quốc T, Vũ Viết T1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Các Thẩm phán | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa | |
Hoàng Rung K' Nhơn | Nguyễn Thành Tâm | Nguyễn Công Hoàn |
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 34/2025/HS-PT ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự phúc thẩm (tội trộm cắp tài sản và tội chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
- Số bản án: 34/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tội Trộm cắp tài sản và Tội Chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo; giữ nguyên bản án sơ thẩm
