1
|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 26/2025/HS-PT Ngày: 12-03-2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Vũ Đại Long.
Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Dung và ông Lê Văn Quân
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà:
Bà Lê Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 03 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 37/2025/TLPT-HS ngày 06 tháng 02 năm 2025 do Bản án hình sự sơ thẩm số 104/2024/HS-ST ngày 27/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2025/QĐXXPT-HS ngày 25/12/2025 đối với:
* Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Ngọc K, sinh ngày 08 tháng 10 năm 1994 tại thị trấn B, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: Khu phố A, Thị trấn B, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; SỐ CCCD: [...]; Con ông: Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1963 và bà: Phạm Thị L, sinh năm 1965; Gia đình bị cáo có hai chị em, bị cáo là con thứ hai; Vợ là Vũ Nguyệt L1, sinh năm 1996, có 02 con, con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2020.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/7/2024 đến ngày 11/7/2024 chuyển tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Y, Thanh Hóa. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào tháng 9 năm 2022, Nguyễn Ngọc K có mua mới 01 xe ô tô nhãn hiệu MG, loại ô tô 05 chỗ, số tự động, màu đỏ, biển số 36A-821.40 dưới dạng mua trả góp, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô mang tên Nguyễn Ngọc K nhưng Ngân hàng giữ. Một thời gian sau, ông Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1963, trú tại: Khu phố A, Thị trấn B, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, là bố đẻ của K, biết việc K mua xe
trả góp nên cùng K đến Ngân hàng trả tiền tất toán việc trả góp để lấy giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô về. Lúc này, ông H cất giữ, bảo quản giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô của K.
Về phần K, sau khi mua xe ô tô, K cùng với Lê Khắc T (sinh năm 1990, ở tiểu khu Đ, Thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa) sử dụng xe ô tô biển số 36A-821.40 để kinh doanh dịch vụ cho thuê xe ô tô tự lái. Do không có giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô để giao cho khách thuê xe nên K và T đã bàn nhau lên mạng Facebook tìm người thuê làm giả được 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô 36A-821.40.
Đến khoảng tháng 9/2023, K mang giấy tờ xe giả về nhà đánh tráo lấy giấy tờ thật do ông H đang cất giữ rồi K mang xe ô tô biển số 36A-821.40 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số 36A-821.40 thật đến cầm cố cho anh Nguyễn Thái T1 (sinh năm 1991, ở tại phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa) để lấy tiền. Đến ngày 19/9/2023, khi xe ô tô biển số 36A-821.40 đang được cầm cố cho anh T1 thì K đã bán xe cho anh Lê Văn L2 (sinh năm 1988, ở thôn D, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa) với giá 300.000.000đ. K và anh L2 đã làm giấy tờ mua bán xe, K nhận tiền và bàn giao xe ô tô biển số 36A-821.40 kèm theo 01 chìa khóa xe, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc, 01 giấy chứng nhận kiểm định, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 36 000125 đều mang tên Nguyễn Ngọc K cho anh L2.
Ngày 30/10/2023, K đi đến nhà anh L2 để định đưa chìa khóa xe dự phòng cho anh L2. Nhưng khi đến nơi, K thấy xe ô tô biển số 36A-821.40 đang để ở lề đường, không có ai trông coi. Do cần tiền trả nợ nên lúc này K đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe. K đi lại vị trí chiếc xe rồi sử dụng chìa khóa xe dự phòng mang theo mở xe, nổ máy điều khiển xe đi về thị trấn B, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Lúc này, K dự định sẽ mang xe đến nhà anh Nguyễn Xuân T2 (sinh năm 1982, ở Khu phố X, Thị trấn B, Thị trấn N, tỉnh Thanh Hóa) để gán nợ cho khoản vay trước đó. Khi đó, K kiểm tra xe thì thấy anh L2 đang để các giấy tờ trong xe, K sợ nếu đưa giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô thật cho anh T2 thì anh T2 có thể sẽ bán mất xe nên K nảy sinh ý định đánh tráo lấy giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả để đưa cho anh T2. Lúc này, K mang giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô thật về nhà rồi đánh tráo lấy được giấy chứng nhận đăng ký xe ôtô giả do ông H đang cất giữ rồi đến nhà anh T2. K và anh T2 thống nhất, K sẽ giao chiếc xe ôtô biển số 36A-821.40 cùng giấy tờ xe cho anh T2 quản lý để đảm bảo cho các khoản vay tiền trước đó mà K đang nợ anh T2, với tổng số tiền là 285.000.000đ. Tuy nhiên, để đảm bảo việc quản lý xe và nếu K không trả được nợ nên anh T2 yêu cầu K phải viết giấy mua bán xe và viết giấy nhận số tiền 285.000.000đ, K đồng ý và hẹn anh T2 nếu sau 20 ngày K không mang tiền đến trả nợ thì anh T2 mới được quyền làm thủ tục sang tên chủ xe hoặc bán xe cho người khác. Vì là chỗ quen biết nên anh T2 đồng ý (Bút lục số 01-11, 18-21, 25-42, 60, 67, 158-179, 181-227).
Đến 16 giờ 30 phút cùng ngày, anh L2 phát hiện bị kẻ gian trộm cắp chiếc xe ô tô biển số 36A-821.40 nên đã đến Công an huyện Y trình báo sự việc (Bút lục số 01).
Tại bản kết luận định giá tài sản số 56/HĐĐGTS ngày 03/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện Y kết luận: Chiếc xe ô tô nhãn hiệu MG, loại ô tô 05 chỗ, số tự động, màu đỏ, biển số 36A-821.40, sản xuất năm 2022 tại thời điểm xảy ra sự việc có giá trị là 405.000.000₫ (BL số 18-21).
Ngày 03/11/2023, anh Nguyễn Xuân T2 đã tự nguyện giao nộp 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu MG, loại ô tô 05 chỗ, số tự động, màu đỏ, kèm theo 02 biển số 36A-821.40 cùng giấy tờ xe gồm: 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc, 01 giấy chứng nhận kiểm định và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 36 000125 đều mang tên Nguyễn Ngọc K cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y để phục vụ quá trình điều tra.
Tại bản kết luận giám định số 4391/KL-KTHS ngày 06/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận: Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 36 000125, tên chủ xe Nguyễn Ngọc K, sinh năm 1994 (do Nguyễn Xuân T2 giao nộp) là giả (Bút lục số 60).
Sau khi phạm tội, Nguyễn Ngọc K đã xuất cảnh sang Singapore và Malaysia. Sau đó, đến ngày 05/7/2024, Nguyễn Ngọc K đã đến Công an huyện Y, tỉnh Thanh Hóa đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân. Đồng thời, K đã tự nguyện giao nộp 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 36 000125, tên chủ xe Nguyễn Ngọc K, sinh năm 1994.
Tại bản kết luận giám định số 2882/KL-KTHS ngày 05/8/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận: Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 36 000125, tên chủ xe Nguyễn Ngọc K, sinh năm 1994 (do Nguyễn Ngọc K giao nộp) là thật (Bút lục số 67).
Xác minh về tài sản, thu nhập: K là lao động tự do, không xác định được thu nhập cụ thể.
Về vật chứng vụ án: 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 36 00125, tên chủ xe Nguyễn Ngọc K, sinh năm 1994 (kết luận giám định là giả) được niêm phong và đưa vào hồ sơ vụ án.
Quá trình điều tra xác định các tài sản, gồm: 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu MG, loại ô tô 05 chỗ, số tự động, màu đỏ; 02 biển số 36A-821.40; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc, 01 giấy chứng nhận đăng kiểm đều mang tên Nguyễn Ngọc K và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 36 000125, tên chủ xe Nguyễn Ngọc K, sinh năm 1994 (kết luận giám định là thật) là tài sản hợp pháp của anh Lê Văn L2. Xét thấy, không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng, giao trả lại tài sản trên cho anh L2 quản lý, sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình giải quyết vụ án, gia đình K đã bồi thường thiệt hại cho bị hại, người liên quan. Không ai có yêu cầu gì và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho K.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số104/2024/HS-ST ngày 27/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa đã Quyết định:
Căn cứ vào Điểm a Khoản 3 Điều 173, Khoản 1 Điều 341, Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 55 của Bộ luật hình sự; Khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc K phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
- Về hình phạt:
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc K 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 09 (chín) tháng tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 09 (chín) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 05/7/2024.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn Quyết định án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 08/01/2025 (trong hạn luật định) bị cáo Nguyễn Ngọc K có đơn kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm xem xét xin được giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung của Bản án sơ thẩm đã tuyên.
Cũng tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa sau khi phân tích tính chất vụ án, nhân thân, hành vi phạm tội của bị cáo cũng như tình tiết mới được bổ sung tại phiên tòa đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 BLTTHS chấp nhận kháng cáo của bị cáo K, giảm hình phạt cho bị cáo về “Trộm cắp tài sản” từ 12 tháng đến 15 tháng tù và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” từ 02 tháng đến 03 tháng tù.
Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận tội, đã nhận thức được lỗi lầm xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo ở mức thấp nhất sớm trở về lo cho gia đình và xã hội làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1] Xét về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại Điều 333 BLTTHS, nên được coi là hợp pháp. Do vậy, HĐXX chấp nhận đơn của bị cáo để xem xét nội dung kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thành khẩn khai báo và thừa nhận hành vi phạm tội cụ thể: Xuất phát từ động cơ vụ lợi nên vào khoảng 13 giờ ngày 30/10/2023, tại Thôn D, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa, lợi dụng sơ hở trong quản lý tài sản của chủ sở hữu, Nguyễn Ngọc K đã lén lút trộm cắp 01 chiếc xe ôtô nhãn hiệu MG, loại ô tô 05 chỗ, số tự động, màu đỏ, biển số 36A-821.40, sản xuất năm 2022 tại Thái Lan, có trị giá 405.000.000đ của anh Lê Văn L2, sinh năm 1988, ở thôn D, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Sau đó, cùng ngày tại thị trấn B, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, Nguyễn Ngọc K đã sử dụng giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả và chiếc xe ô tô Kiên trộm cắp của anh L2 đến gán nợ cho anh Nguyễn Xuân T2, sinh năm 1982, ở khu phố X, thị trấn B, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Lời thừa nhận về hành vi phạm tội của bị cáo tại cấp phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị hại và những người làm chứng tại cấp sơ thẩm và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được kiểm tra tại phiên tòa nên hành vi của bị cáo Nguyễn Ngọc K đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 BLHS và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.
[3] Về tính chất vụ án: Vụ án thuộc tội phạm rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội rất lớn trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của công dân, xâm phạm trật tự an toàn xã hội và còn xâm phạm quyền đến hoạt động bình thường cơ quan, tổ chức nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự của địa phương và quản lý hành chính của cơ quan nhà Nước. Vì vậy cần xử lý nghiêm để giáo dục, đồng thời phòng ngừa chung. Cấp sơ thẩm đã xác định tội danh và khung hình phạt cho bị cáo là có cơ sở pháp luật.
[4] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo:
Tại phiên tòa bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt: Nhận thấy, khi lượng hình cấp sơ thẩm có xem xét, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: Thành khẩn khai báo; đã tác động đến gia đình khắc phục thiệt hại cho bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; sau khi phạm tội đã đến Cơ quan công an đầu thú, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và bị cáo có ông ngoại là người có công với cách mạng được quy định tại các điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo cung cấp thêm tình tiết mới được UBND xã xác nhận hoàn cảnh rất khó khăn và bị hại tiếp tục có đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên cần áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
HĐXX xét thấy tại cấp phúc thẩm bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ mới, đã ăn năn hối hận về việc làm của mình, phạm tội do bột phát nên cần xem xét chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo giảm một phần hình phạt. Để bị cáo thấy được sự khoan hồng của Nhà nước, mà
yên tâm cải tạo sớm trở thành công dân có ích cho xã hội. Do vậy, kháng cáo của bị cáo là có cơ sở chấp nhận.
Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 của BLTTHS, chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm là có căn cứ pháp luật.
[5] Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Ngọc K không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo được chấp nhận.
[6] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ: Điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Ngọc K. Sửa Bản án Hình sự sơ thẩm số 104/2024/HS-ST ngày 27/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa về hình phạt.
Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 173; khoản 1 Điều 341; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự. Điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
* Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Ngọc K phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
* Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc K 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 06 (sáu) tháng tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 07 (bảy) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/7/2024.
- Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Ngọc K không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Vũ Đại Long |
Bản án số 26/2025/HS-PT ngày 12/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ về trộm cắp tài sản và sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Số bản án: 26/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản và Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm oto
