Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ TĨNH

Bản án số: 26/2025/HS-PT

Ngày: 04/4/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hà Ngân

Các Thẩm phán: Bà Trương Thị Lệ Thu

Ông Nguyễn Khắc Hoàn

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Nguyễn Hoàng Đức – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đình Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 4 năm 2025, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đưa ra xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2025/TLPT-HS ngày 03/3/2025 đối với bị cáo Lê Đăng Q và các bị cáo khác do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 59/2024/HS-ST ngày 27 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.

- Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Lê Đăng Q, sinh ngày 27/3/1991, tại tỉnh Hưng Yên; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn A, xã C, huyện T, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Đăng K, sinh năm 1962 và bà Tạ Thị L, sinh năm 1964; anh chị em ruột có 02 người, bị cáo là con thứ hai; vợ: Tạ Thị B, sinh năm 1993; con: có 02 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/02/2024 cho đến ngày 27/6/2024 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh. (Vắng mặt do rút đơn kháng cáo).
  2. Hoàng Văn P, sinh ngày: 13/10/1991, tại tỉnh Hà Tĩnh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Anh N, sinh năm 1966 và bà Đinh Thị L1, sinh năm 1965; anh chị em ruột có 03 người, bị cáo là con thứ ba; vợ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1996; con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/8/2024 cho đến ngày 19/9/2024 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh (Có mặt).
  3. Nguyễn Văn M, sinh ngày 14/10/1999, tại tỉnh Hà Tĩnh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn M, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; giới tính: Nam; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn N1, sinh năm 1972 và bà Tô Thị H, sinh năm 1973; anh chị em ruột có 03 người, bị cáo là con thứ ba; Vợ: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1998; Con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh từ ngày 31/03/2024 cho đến nay. (Có mặt).
  4. Nguyễn Hoàng T2, sinh ngày 24/4/1998, tại tỉnh Hà Tĩnh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn M, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thái D (đã chết) và bà Võ Thị L2, sinh năm 1973; anh chị em ruột có 02 người, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Dương Thị L3; sinh năm 2004; Con: có 01 con sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh từ ngày 31/3/2024 cho đến nay. (Có mặt).

Ngoài ra còn có 01 bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 08/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, tỉnh Hà Tĩnh nhận được đơn trình báo của Hoàng Văn P (sinh năm 1991; trú tại thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh), trình bày về việc: Vào ngày 01/6/2023, sau khi uống ly nước cam tại quán C (ở xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh) do Võ Công L4 (sinh năm 2001; ở thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh) đưa cho P uống, thì P có biểu hiện bất thường rồi sau đó đi đánh bạc bằng hình thức “Ba cây” với L4 và Lê Đăng Q, Nguyễn Ngọc H1, bị thua với số tiền khoảng 1.850.000.000 đồng (Một tỷ tám trăm năm mươi triệu đồng). Sau khi tiếp nhận đơn, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, tỉnh Hà Tĩnh đã xác minh làm rõ được, vào ngày 01/6/2023 Hoàng Văn P đã tham gia đánh bạc với Võ Công L4, Lê Đăng Q, Nguyễn Ngọc H1 và Nguyễn Văn M.

Quá trình điều tra xác minh xác định được như sau: Cuối tháng 5/2023, Lê Đăng Q, gặp Nguyễn Thị B1 (sinh năm 1983, trú tại phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh) ở tỉnh Quảng Ninh, do quen biết nhau từ trước nên B1 rủ Q đi vào quê của Bé ở H, Q đồng ý. Trong quá trình chơi tại đây, Quận gặp Võ Công L4, sinh năm 2001 (Con trai của B1). Quá trình nói chuyện, L4 và Q có bàn bạc về việc tìm người để cùng đánh bài. Sau đó Q gọi điện thoại cho Nguyễn Ngọc H1 (Bạn của Quận, ở tỉnh Đắc Lắc) rủ Hơn ra huyện K, tỉnh Hà Tĩnh chơi, H1 đồng ý và bắt xe khách ra gặp Q. Biết việc Q và H1 làm được bài (làm được bài có nghĩa là biết cách gian lận để thắng bài, lời được tiền của những người chơi khác), L4 và M đã bàn bạc, thống nhất việc sẽ tìm cách rủ P đánh bài cùng L4, Q, H1, M để lừa thắng tiền của P. Sau khi thắng được tiền của P thì cả nhóm sẽ chia nhau tiền lời. Sáng ngày 01/6/2023, Võ Công L4 rủ Lê Đăng Q, Nguyễn Ngọc H1 giả vờ đánh bài, L4 giả vờ gọi M đưa tiền đến cho L4 nhằm mục đích để M rủ P đi cùng, để P đến đánh bài cùng cả nhóm. Trong khoảng thời gian từ 08 giờ 40 phút ngày 01/6/2023 đến 18 giờ 00 phút cùng ngày Võ Công L4, Lê Đăng Q, Nguyễn Ngọc H1, Hoàng Văn P, Nguyễn Văn M 03 (Ba) lần đánh bạc tại 03 (Ba) địa điểm khác nhau, còn Nguyễn Hoàng T2 02 (Hai) lần giúp sức chuẩn bị công cụ để các bị can đánh bạc, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Khoảng 08 giờ 40 phút, ngày 01/6/2023, tại nhà ở bà Cao Thị Q1, ở thôn Đ, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Võ Công L4, Lê Đăng Q, Nguyễn Ngọc H1, Hoàng Văn P, Nguyễn Văn M đánh bạc được thua bằng tiền, dưới hình thức “Ba cây”, với mức đánh mỗi người trong mỗi ván từ 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng) trở lên, còn Nguyễn Hoàng T2 không tham gia đánh bạc mà đi mua ba bộ bài tú lơ khơ về cho các bị cáo sử dụng để đánh bạc với nhau. Quá trình điều tra xác định: Tổng số tiền các bị can sử dụng để đánh bạc với nhau là 167.200.000 đồng (Một trăm sáu mươi bảy triệu hai trăm nghìn đồng). Trong đó Hoàng Văn P sử dụng 147.000.000 đồng (Một trăm bốn mươi bảy triệu đồng); Võ Công L4 sử dụng 6.200.000 đồng (Sáu triệu hai trăm nghìn đồng); Lê Đăng Q sử dụng 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng); Nguyễn Ngọc H1 sử dụng 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng); Nguyễn Văn M sử dụng 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng). Các bị can Võ Công L4, Lê Đăng Q, Nguyễn Ngọc H1, Hoàng Văn P, Nguyễn Văn M đánh bạc đến khoảng 10 giờ 00 phút cùng ngày thì Hoàng Văn P thua hết tiền nên nghỉ.

Lần thứ hai: Khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 01/6/2023, tại nhà ở V, ở thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Võ Công L4, Lê Đăng Q, Nguyễn Ngọc H1, Hoàng Văn P, Nguyễn Văn M tiếp tục đánh bạc được thua bằng tiền, dưới hình thức “Ba cây”, với mức đánh mỗi người trong mỗi ván từ 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng) trở lên. Quá trình điều tra xác định: Tổng số tiền các bị can sử dụng để đánh bạc với nhau là 565.600.000 đồng (Năm trăm sáu mươi lăm triệu sáu trăm nghìn đồng). Trong đó Hoàng Văn P sử dụng 440.000.000 đồng (Bốn trăm bốn mươi triệu đồng); Võ Công L4 sử dụng 25.200.000 đồng (Hai mươi lăm triệu hai trăm nghìn đồng); Lê Đăng Q sử dụng 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng); Nguyễn Ngọc H1 sử dụng 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng); Nguyễn Văn M sử dụng 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng). Các bị cáo Võ Công L4, Lê Đăng Q, Nguyễn Ngọc H1, Hoàng Văn P, Nguyễn Văn M đánh bạc đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày thì Hoàng Văn P thua hết tiền nên nghỉ.

Lần thứ ba: Khoảng 14 giờ 30 phút, ngày 01/6/2023, tại trang trại ông Võ K1, sinh năm 1956, ở thôn S, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Võ Công L4, Lê Đăng Q, Nguyễn Ngọc H1, Hoàng Văn P, Nguyễn Văn M tiếp tục đánh bạc được thua bằng tiền, dưới hình thức “Ba cây” và “Xóc đĩa”, với mức đánh mỗi người trong mỗi ván từ 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) trở lên, còn Nguyễn Hoàng T2 không tham gia đánh bạc mà đi lấy kéo để Nguyễn Ngọc H1 lấy quân bài tú lơ khơ cắt quân bài thành 04 quân vị để đánh bạc. Quá trình điều tra xác định: Tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc với nhau là 1.318.400.000 đồng (Một tỷ ba trăm mười tám triệu bốn trăm nghìn đồng). Trong đó Hoàng Văn P sử dụng 740.000.000 đồng (Bảy trăm bốn mươi hai triệu tám trăm nghìn đồng); Võ Công L4; Lê Đăng Q và Nguyễn Ngọc H1 cùng nhau sử dụng 565.600.000 đồng (Năm trăm sáu mươi lăm triệu sáu trăm nghìn đồng); Nguyễn Văn M sử dụng 12.800.000 đồng (Mười hai triệu tám trăm nghìn đồng). Các bị cáo Võ Công L4, Lê Đăng Q, Nguyễn Ngọc H1, Hoàng Văn P, Nguyễn Văn M đánh bạc đến khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày thì Hoàng Văn P thua hết tiền nên nghỉ. Tổng số tiền các bị cáo Võ Công L4, Lê Đăng Q, Nguyễn Ngọc H1, Hoàng Văn P, Nguyễn Văn M, sử dụng đánh bạc 03 (Ba) lần là 2.051.200.000 đồng (Hai tỷ không trăm năm mươi mốt triệu hai trăm nghìn đồng). Nguyễn Hoàng T2 đồng phạm với vai trò giúp sức trong 02 (Hai) lần đánh bạc là 1.485.600.000 đồng (Một tỷ bốn trăm tám mươi lăm triệu sáu trăm nghìn đồng).

Tổng số tiền các bị cáo đánh bạc với nhau 03 (Ba) lần là 2.051.200.000 đồng (Hai tỷ không trăm năm mươi mốt triệu hai trăm nghìn đồng). Trong đó lần thứ nhất 167.200.000 đồng (Một trăm sáu mươi bảy triệu hai trăm nghìn đồng); lần thứ hai 565.600.000 đồng (Năm trăm sáu mươi lăm triệu sáu trăm nghìn đồng); lần thứ ba 1.318.400.000 đồng (Một tỷ ba trăm mười tám triệu bốn trăm nghìn đồng). Quá trình điều tra xác định được sau khi đánh bạc Lê Đăng Q thu lợi 320.000.000 đồng (Ba trăm hai mươi triệu đồng); Nguyễn Ngọc H1 280.000.000 đồng (Hai trăm tám mươi triệu đồng); Nguyễn Thị B1 và Võ Công L4 420.000.000 đồng (Bốn trăm hai mươi triệu đồng), ngoài ra Võ Công L4 còn được hưởng lợi thêm số tiền 192.000.000 đồng (Một trăm chín mươi hai triệu đồng), gồm (150.000.000 đồng lấy lại từ Nguyễn Văn M và 42.000.000 đồng Quận chuyển khoản vào tài khoản của vợ L4); Nguyễn Văn M 45.000.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu đồng); Hoàng Văn P 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng); Nguyễn Hoàng T2 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).

Chiếc xe ô tô, biển kiểm soát: 38A-480.93 mà Hoàng Văn P sử dụng làm phương tiện đi đánh bạc, xác định chủ sở hữu là Hoàng Văn P, tuy nhiên sau khi tham gia đánh bạc được một thời gian thì P đã bán đi không còn sử dụng.

Vật chứng, tài liệu thu giữ: Trong quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã thu giữ, xử lý các vật chứng bao gồm:

  • Vật chứng thu giữ tại nhà bà Cao Thị Q1:
    • + 104 (Một trăm linh tư) quân bài tú lơ khơ màu đỏ, đã qua sử dụng.
    • + 160 (Một trăm sáu mươi) quân bài tú lơ khơ màu xanh, đã qua sử dụng.
    • + 01 (Một) chiếc chiếu nhựa có nhiều hoa văn màu xanh, màu trắng, đã qua sử dụng.
  • Vật chứng thu giữ tại nhà ông Võ K1: 01 (Một) chiếc chiếu nhựa có nhiều hoa văn màu xanh, trắng, đã qua sử dụng.
  • Vật chứng thu giữ của các bị cáo:
    • + 01 (Một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 Pro max, màu xanh, mặt sau điện thoại bị vỡ, số Imei 1: 357884544098839, số Imei 2: 357884543581777, gắn sim số 0855336956, máy đã qua sử dụng. Thu của Nguyễn Văn M.
    • + 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, vỏ màu trắng, số Imei 1: 356004082391204, số Imei 2: 356004082391212, gắn sim số 0325924768, máy đã qua sử dụng. Thu của Lê Đăng Q.
    • + 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu vàng, số Imei: 356748083610778, không gắn thẻ sim, máy đã qua sử dụng. Thu của Lê Đăng Q.
    • + 01 (Một) thẻ tài khoản ngân hàng màu xanh do ngân hàng A phát hành, số thẻ 9704050766708783, số tài khoản 2411205115228 mang tên LE DANG QUAN. Thu của Lê Đăng Q.
    • + 01 (Một) thẻ tài khoản ngân hàng màu xanh do ngân hàng V phát hành, số thẻ 9704151553125700, số tài khoản 100872042665 mang tên LE DANG QUAN. Thu của Lê Đăng Q.
    • + 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus, màu vàng, số Imei: 356697083206261; gắn sim số 0984444355, máy đã qua sử dụng. Thu của Nguyễn Ngọc H1.
    • + Tiền Ngân hàng N2 đang lưu hành 85.000.000 đồng (T3 mươi lăm triệu đồng). Trong đó 42.000.000 đồng (Bốn mươi hai triệu đồng) Võ Công L4 giao nộp; 33.000.000 đồng (Ba mươi ba triệu đồng) Nguyễn Văn M giao nộp và 10.000.000 đông (Mười triệu đồng) Nguyễn Hoàng T2 giao nộp.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 59/2024/HS-ST ngày 27 tháng 12 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh đã quyết định:

Tuyên bố: Các bị cáo Lê Đăng Q, Nguyễn Ngọc H1, Hoàng Văn P, Nguyễn Văn M, Nguyễn Hoàng T2 phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ điểm b, khoản 2, Điều 321; điểm g, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với Lê Đăng Q, Hoàng Văn P, Nguyễn Văn M, Nguyễn Hoàng T2.

Xử phạt Lê Đăng Q 04 (Bốn) năm 02 (Hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án nhưng được trừ đi thời gian đã tạm giữ tạm giam (từ ngày 01/02/2024 cho đến ngày 27/6/2024) vào thời gian đi thi hành án.

Xử phạt Hoàng Văn P 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù thời hạn tù tính từ ngày thi hành án nhưng được trừ đi thời gian đã tạm giữ tạm giam (từ ngày13/8/2024 cho đến ngày 19/9/2024) vào thời gian đi thi hành án.

Xử phạt Nguyễn Văn M 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án.

Xử phạt Nguyễn Hoàng T2 03 (Ba) năm tù thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Trong thời hạn luật định, ngày 27/12/2024 bị cáo Lê Đăng Q kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo; ngày 02/01/2025, bị cáo Nguyễn Văn M và bị cáo Nguyễn Hoàng T2 kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo; ngày 07/01/2025, bị cáo Hoàng Văn P kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

Trước khi mở phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Đăng Q có đơn xin rút toàn bộ nội dung kháng cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo còn lại giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh giữ quyền công tố tại phiên tòa trên cơ sở đánh giá tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm:

  • Đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Lê Đăng Q.
  • Không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn M và bị cáo Hoàng Văn P.
  • Chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hoàng T2.

Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355, Điều 356, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 59/2024/HS-ST ngày 27 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.

Căn cứ điểm b, khoản 2, Điều 321; điểm g, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự; điểm r, s, t khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Hoàng Văn P 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án nhưng được trừ đi thời gian đã tạm giữ tạm giam (từ ngày 13/8/2024 cho đến ngày 19/9/2024) vào thời gian đi thi hành án.

Căn cứ điểm b, khoản 2, Điều 321; điểm g, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án.

Căn cứ điểm b, khoản 2, Điều 321; điểm g, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị Nguyễn Hoàng T2 03 (Ba) năm tù về tội “đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Các bị cáo không có nội dung tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng: Các bị cáo đều trình bày đã nhận thức được sai phạm, ăn năn hối cải và xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về căn cứ pháp lý, thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại các phiên tòa, các bị cáo không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.

[2]. Đối với bị cáo Lê Đăng Q, trước khi mở phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã có đơn xin rút toàn bộ nội dung kháng cáo. Xét thấy đơn rút kháng cáo của bị cáo Lê Đăng Q là tự nguyện, hợp pháp nên Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Lê Đăng Q theo quy định tại Điều 348 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015

Đơn kháng cáo của bị cáo nộp trong thời hạn luật định nên được chấp nhận xem xét.

[3]. Về tội danh, khung hình phạt của các bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi mà mình đã thực hiện. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở xác định: Sáng ngày 01/6/2023, Võ Công L4 rủ Lê Đăng Q, Nguyễn Ngọc H1, Nguyễn Văn M, Hoàng Văn P đánh bạc thì mọi người đồng ý. Trong khoảng thời gian từ 08 giờ 40 phút ngày 01/6/2023 đến 18 giờ 00 phút cùng ngày Võ Công L4, Lê Đăng Q, Nguyễn Ngọc H1, Hoàng Văn P, Nguyễn Văn M 03 (Ba) lần đánh bạc tại 03 (Ba) địa điểm khác nhau, còn Nguyễn Hoàng T2 02 (Hai) lần giúp sức chuẩn bị công cụ để các bị can đánh bạc.

Tổng số tiền các bị cáo Võ Công L4, Lê Đăng Q, Nguyễn Ngọc H1, Hoàng Văn P, Nguyễn Văn M, sử dụng đánh bạc 03 (Ba) lần là 2.051.200.000 đồng (Hai tỷ không trăm năm mươi mốt triệu hai trăm nghìn đồng). Nguyễn Hoàng T2 đồng phạm với vai trò giúp sức trong 02 (Hai) lần đánh bạc là 1.485.600.000 đồng (Một tỷ bốn trăm tám mươi lăm triệu sáu trăm nghìn đồng. Sau khi đánh bạc Lê Đăng Q thu lợi 320.000.000 đồng (Ba trăm hai mươi triệu đồng); Nguyễn Ngọc H1 thu lợi 280.000.000 đồng (Hai trăm tám mươi triệu đồng); Nguyễn Thị B1 và Võ Công L4 thu lợi 420.000.000 đồng (Bốn trăm hai mươi triệu đồng), ngoài ra Võ Công L4 còn được hưởng lợi thêm số tiền 192.000.000 đồng (Một trăm chín mươi hai triệu đồng), gồm (150.000.000 đồng lấy lại từ Nguyễn Văn M và 42.000.000 đồng Quận chuyển khoản vào tài khoản của vợ L4); Nguyễn Văn M thu lợi 45.000.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu đồng); Hoàng Văn P thu lợi 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng); Nguyễn Hoàng T2 thu lợi 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng)

Thời gian gần đây, các hành vi xâm phạm đến trật tự công cộng, an toàn xã hội, đặc biệt là hành vi đánh bạc diễn ra hết sức phức tạp, có chiều hướng gia tăng mạnh với nhiều hình thức khác nhau, là mầm mống phát sinh nhiều loại tội phạm khác; gây mất an ninh trật tự, ổn định xã hội. Các bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đều nhận thức được hành vi đánh bạc là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm nhưng các bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Các bị cáo đều thừa nhận đã thực hiện việc đánh bạc và các lần đánh bạc cụ thể như tại bản án sơ thẩm đã nêu và việc cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội danh, các điểm, khoản, điều luật nói trên là đúng người đúng tội. Do đó, việc Bản án hình sự sơ thẩm số 59/2024/HS-ST ngày 27 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh tuyên bố các bị cáo Hoàng Văn P, Nguyễn Văn M, Nguyễn Hoàng T2 phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự và xử phạt bị cáo mức hình phạt 12 (mười hai) tháng tù là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4]. Xét nội dung kháng cáo:

Hội đồng xét xử xét phúc thẩm xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và vai trò của các bị cáo trong vụ án. Tuy nhiên, sau khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm:

- Đối với bị cáo Nguyễn Hoàng T2: Bị cáo nộp đơn trình bày gia đình có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình có xác nhận của chính quyền địa phương; bị cáo đã chủ động thi hành một phần bản án sơ thẩm về việc nộp 200.000 đồng án phí sơ thẩm. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới của bị cáo (theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự) sau khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm, thể hiện thái độ tích cực, chấp hành pháp luật của bị cáo. Mặc bị cáo phạm tội hai lần, tuy nhiên cả hai lần bị cáo phạm tội đều là người giúp sức trong vụ án đồng phạm với vai trò không đáng kể. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định, có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội cũng như thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

- Đối với bị cáo Hoàng Văn P: Bị cáo nộp đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo của bà Nguyễn Thị T4, bà Lê Thị Ngọc H2, ông Nguyễn Văn H3 (là những người từng được bị cáo giúp đỡ); bị cáo đã chủ động thi hành một phần bản án sơ thẩm về việc nộp 10.000.000 đồng tiền thu lợi bất chính. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới của bị cáo (theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự) sau khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm, thể hiện thái độ tích cực, chấp hành pháp luật của bị cáo. Ngoài ra, sau khi phạm tội, bị cáo Hoàng Văn P đã làm đơn trình báo gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, tỉnh Hà Tĩnh nhằm tố cáo các bị cáo khác rủ bị cáo đánh bài để lừa tiền của bị cáo. Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi đánh bạc của mình. Bị cáo đánh bạc nhiều lần với số tiền lớn vì lý do bị các bị cáo khác cấu kết, lừa bị cáo đánh bài để ăn tiền, bị cáo mất số tiền lớn nên càng muốn đánh thêm để gỡ. Mặc dù bị cáo P nộp đơn trình báo; cơ quan tiếp nhận người phạm tội tự thú không lập biên bản và ghi rõ thông tin về họ tên, tuổi, nghề nghiệp, chỗ ở và lời khai của người tự thú; nhưng bản chất đây là việc bị cáo tự thú, tự nguyện khai báo với Cơ quan Cảnh sát điều tra về hành vi phạm tội của mình trước khi tội phạm hoặc người phạm tội bị phát hiện. Quá trình làm việc với cơ quan điều tra, bị cáo đã thể hiện sự hợp tác tích cực với cơ quan điều tra, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, trình bày toàn bộ nội dung của vụ án giúp cơ quan điều tra nhanh chóng làm sáng tỏ vụ án, phát hiện thêm các đồng phạm khác. Nếu bị cáo P không tích cực hợp tác với cơ quan điều tra thì cơ quan điều tra chưa thể làm sáng tỏ được vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cần thiết phải áp dụng cho bị cáo nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa áp dụng cho bị cáo. Xét thấy, bị cáo có ba tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm r, s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là tự thú; thành khẩn khai báo và tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm, trong quá trình giải quyết vụ án; do đó cần chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng đối với bị cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo đánh bạc nhiều lần với số tiền lớn nên cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

- Đối với bị cáo Nguyễn Văn M: Bị cáo nộp đơn trình bày gia đình có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình có xác nhận của chính quyền địa phương; bị cáo đã chủ động thi hành một phần bản án sơ thẩm về việc nộp 200.000 đồng án phí sơ thẩm. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới của bị cáo (theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự) sau khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm, thể hiện thái độ tích cực, chấp hành pháp luật của bị cáo. Xét thấy bị cáo có một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 51 và một số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51, tuy nhiên bị cáo đánh bạc nhiều lần, có vai trò tích cực trong vụ án; chính bị cáo M là người đã bàn bạc, thống nhất với bị cáo L4 đưa bị cáo P đến đánh bạc cùng các bị cáo khác để các bị cáo lừa thắng tiền của bị cáo P. Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo là phù hợp, do đó không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

[5]. Về biện pháp tư pháp đối với khoản thu lợi bất chính của các bị cáo:

- Đối với bị cáo Hoàng Văn P, quá trình phạm tội, bị cáo thu lợi bất chính số tiền 20.000.000 đồng. Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, bị cáo đã nộp số tiền 10.000.000 đồng. Sau khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm, bị cáo tiếp tục nộp thêm số tiền 10.000.000 đồng tiền thu lợi bất chính theo biên lai thu số 0002329 ngày 10/3/2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Kỳ Anh. Bị cáo đã nộp đủ số tiền thu lợi bất chính.

[6]. Về án phí: Kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Hoàng T2, Hoàng Văn P được chấp nhận nên bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn M không được chấp nhận nên bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ Điều 342, khoản 1 Điều 348 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015: Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với nội dung kháng cáo của bị cáo Lê Đăng Q.
  2. Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355; Điều 356; điểm c, e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015: Chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hoàng T2; Chấp nhận một phần nội dung kháng cáo của bị cáo Hoàng Văn P; Không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn M; sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 59/2024/HS-ST ngày 27 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.
    • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Đánh bạc”; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.
    • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm r, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn P 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Đánh bạc”; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án (nhưng được trừ thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/8/2024 cho đến ngày 19/9/2024).
    • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T2 03 (ba) năm tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

    Trong thời gian thử thách, giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục bị cáo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  3. Về biện pháp tư pháp đối với khoản thu lợi bất chính của các bị cáo: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015; khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự 2015: Sung vào ngân sách nhà nước số tiền 10.000.000 đồng thu lợi bất chính do bị cáo Hoàng Văn P nộp theo biên lai thu số 0002329 ngày 10/3/2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Kỳ Anh. (Bị cáo đã nộp đủ số tiền thu lợi bất chính)
  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, điểm b, g, h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Nguyễn Văn M phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
  5. Các quyết định của bản án sơ thẩm đối với bị cáo Lê Đăng Q có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên bản án phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND T. Hà Tĩnh;
  • - Công an T. Hà Tĩnh;
  • - Sở Tư pháp T. Hà Tĩnh;
  • - VKS, TA, THADS H. Kỳ Anh, T. Hà Tĩnh;
  • - Bị cáo có kháng cáo;
  • - Lưu: HS, VT.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hà Ngân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2025/HS-PT ngày 04/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về hình sự - đánh bạc

  • Số bản án: 26/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 04/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sửa một phần bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger