Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ SƠN TÂY

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 26/2025/HNGĐ – ST

Ngày 30 tháng 6 năm 2025

V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • + Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lã Hùng Cường.
  • + Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Quang Hòa; Bà Đào Thị Minh Nguyệt.
  • - Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây tham gia phiên toà: Bà Lã Thị Loan – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 24/2025/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 3 năm 2025, theo đưa vụ án ra xét xử số: 17/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Trần Thế H, sinh năm 1979 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt);

ĐKHKTT và nơi ở hiện tại: Số D khu tập thể C, phường N, thị xã S, TP .;

Bị đơn: Chị Giang Thị Bích N, sinh năm 1983; (Vắng mặt)

ĐKHKTT: Số D khu tập thể C, phường N, thị xã S, TP .;

Nơi ở hiện tại: Khu phố A, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và các lời trình bày tiếp theo trong quá trình tổ tụng tại Tòa án, nguyên đơn là anh Trần Thế H bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Giang Thị Bích N đăng ký kết hôn ngày 23/11/2012 tại Ủy ban nhân dân phường N, thị xã S, TP . qua tự do tìm hiểu theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không hợp tính cách. Từ năm 2013 đến nay vợ chồng anh chị sống ly thân. Nay anh H xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị N.

+ Về con chung: Anh chị có 01 con chung là cháu Trần Hải Đ, sinh ngày 29/9/2012. Hiện cháu Đ đang ở với mẹ. Anh H đồng ý giao cháu Đ cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng. Anh H đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung với mức 2.000.000 đồng/ tháng kể từ thời điểm ly hôn đến khi cháu Đ đủ 18 tuổi, ngoài ra khi có vấn đề phát sinh thì sẽ cùng chị N bàn bạc để cùng lo cho cháu Đ.

- Về tài sản chung, công sức chung: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về công nợ chung: Anh H trình bày không có.

- Về án phí: Anh H tự nguyện chịu án phí ly hôn, theo quy định của pháp luật.

Tại Bản tự khai ngày 27/5/2025 bị đơn là chị Giang Thị Bích N trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Vợ chồng tôi tự nguyện lấy nhau, có đăng ký giấy chứng nhận kết hôn tại UBND phường N, thị xã S, thành Phố Hà Nội. Thời gian đầu sau khi kết hôn, chúng tôi chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Tuy nhiên, kể từ đầu năm 2012 do ông H có phát sinh tình cảm với người phụ nữ khác nên vợ chồng tôi thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung. Cuối năm 2012 đến nay, vợ chồng tôi ly thân. Cả hai cùng xác định không còn tình cảm với đối phương, thống nhất ly hôn. Vì vậy, đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với chồng là ông Trần Thế H.

2. Về con chung: Có 01 con chung, con tên Trần Hải Đ, sinh ngày 29/9/2012; Hiện nay, H đang do tôi trực tiếp nuôi dưỡng từ khi mới 02 tháng tuổi đến nay. Tôi yêu cầu Tòa giải quyết cho tôi được tiếp tục nuôi dưỡng Hải Đăng và yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con một lần, với mức như sau:

1.500.000 đồng/tháng x 12 tháng=18.000.000 đồng/năm;

18.000.000 đồng/năm x 18 năm = 324.000.000 đồng.

Tôi đề nghị ông H cấp dưỡng một lần với tổng số tiền là 324.000.000 đồng cho đến khi cháu Hải Đ đủ 18 tuổi.

- Về tài sản chung, công sức chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về công nợ chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Giấy thể hiện nguyện vọng của con sau khi cha mẹ ly hôn ngày 27/5/2025, cháu Đ trình bày nguyện vọng được ở với mẹ.

Tòa án đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, do chị N có đơn xin vắng mặt, không đến Tòa án làm việc nên canh H đề nghị Tòa án đưa vụ án ra xét xử.

- Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã công bố các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đúng như tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

- Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:

+ Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Về nội dung vụ án: Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Trần Thế H được ly hôn với chị Giang Thị Bích N. Về con chung: Có 01 con chung là cháu Trần Hải Đ, sinh ngày 29/9/2012, giao chị Giang Thị Bích N trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trần Hải Đ. Ghi nhận sự tự nguyện cấp dưỡng của anh H. Về tài sản chung, công sức chung: Đề nghị Tòa án không xem xét. Anh H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà;

[1] Về pháp luật tố tụng: Tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình”, bị đơn trong vụ án là chị Giang Thị Bích N có đăng ký hộ khẩu thường trú tại phường N, thị xã S, TP . nên theo quy định tại khoản 1 điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án nhân dân nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

Trong quá trình giải quyết tại Tòa án, Tòa án đã tiến hành hòa giải, ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử và tống đạt hợp lệ cho nguyên đơn, bị đơn. Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn, bị đơn đều vắng mặt, có ý kiến xin xét xử vắng mặt nên Tòa án căn cứ các điều 227, 228 BLTTDS xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

[2]Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Thế H và chị Giang Thị Bích N kết hôn tuân thủ đầy đủ các điều kiện kết hôn và thủ tục về kết hôn theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình, do đó quan hệ hôn nhân giữa anh H và chị N là hợp pháp.

Trong thời gian chung sống anh H và chị N có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2013 đến nay. Nay cả anh H xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị N, chị N cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn, nhất trí ly hôn.

Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn giữa anh H và chị N là trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được. Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, cả anh H và chị N đều xác định tình cảm vợ chồng không còn nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của luật Hôn nhân và gia đình 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Trần Thế H, xử cho anh H được ly hôn với chị N.

[3] Về con chung: Anh Trần Thế H và chị Giang Thị Bích N có 01 con chung là cháu Trần Hải Đ, sinh ngày 29/9/2012. Anh H trình bày đồng ý giao cháu Đ cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng; chị N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Cháu Đ trình bày nguyện vọng được ở với mẹ.

Hội đồng xét xử xét thấy: Nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung của cả chị N là chính đáng, cháu Đ đã và đang sinh sống ổn định với chị N từ trức đến nay, bản thân cháu Đ cũng có nguyện vọng ở với mẹ. Anh H cũng đồng ý giao cháu Đ cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng. Vì vậy, việc giao cháu Trần Hải Đ cho chị Giang Thị Bích N trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn là phù hợp với thực tế, đảm bảo được sự phát triển tốt nhất về tâm sinh lý, thể chất, sinh hoạt của các con chung cũng như phù hợp với quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

Chị N yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung một lần với tổng số tiền là 324.000.000 đồng cho đến khi cháu Hải Đ đủ 18 tuổi. Anh H tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung với mức 2.000.000 đồng/tháng kể từ sau khi ly hôn đến khi cháu Đ đủ 18 tuổi. Xét thấy các đương sự không thống nhất được mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nên HĐXX căn cứ quy định của pháp luật hiện hành xác định anh Trần Thế H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn với mức 2.480.000 đồng/tháng kể từ tháng 7/2025 đến khi cháu Đ đủ 18 tuổi hoặc đến khi có quyết định, thay đổi khác.

Sau khi ly hôn, anh Trần Thế H được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.

[4] Về tài sản chung, công sức chung: Anh H và chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này mà giành quyền khởi kiện cho các đương sự trong vụ án khác.

[5] Nợ chung: Anh H và chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết, đều trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Anh H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1, Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 1, khoản 2 Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 1 Điều 6, điểm a, khoản 1, khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.

Xử:

  1. Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Trần Thế H, anh Trần Thế H được ly hôn chị Giang Thị Bích N.
  2. Về con chung: Có 01 con chung là Trần Hải Đ, sinh ngày 29/9/2012. Giao cháu Trần Hải Đ cho chị Giang Thị Bích N trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc có quyết định thay đổi khác.

    Anh Trần Thế H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn cho cháu Đ với mức 2.480.000,đ (Hai triệu bốn trăm tám mươi nghìn đồng) /tháng kể từ tháng 7/2025 đến khi cháu Đ đủ 18 tuổi hoặc đến khi có quyết định, thay đổi khác.

  3. Anh Trần Thế H được quyền, nghĩa vụ thăm con chung không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung của người trực tiếp nuôi con.
  4. Về tài sản chung, công sức chung, công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  5. Về án phí: Anh Trần Thế H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí cấp dưỡng sơ thẩm. Đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng anh H đã nộp Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001106 ngày 24/3/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây, TP .. Anh H phải nộp thêm 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng.

6. Về quyền kháng cáo: Anh Trần Thế H và chị Giang Thị Bích N có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án, quyết định được niêm yết, tống đạt hợp lệ. Viện Kiểm sát nhân dân có quyền kháng nghị theo quy định.

“ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thị hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự“.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội
  • - Viện KSND TX.Sơn Tây, TP. Hà Nội;
  • - Người tham gia tố tụng
  • - UBND phường Ngô Quyền, thị xã Sơn Tây, TP. Hà Nội;
  • - Chi cục THADS TX. Sơn Tây;
  • - Lưu hồ sơ

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Lã Hùng Cường

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2025/HNGĐ – ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân gia đình

  • Số bản án: 26/2025/HNGĐ – ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: anh H ly hôn chị N
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger