TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 26/2025/HNGĐ-ST Ngày: 28/5/2025 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ung Thị Ngọc Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hồ Thị Xuân Thiều
2. Ông Phạm Xuân Đính
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Hồng Huế là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành tham gia phiên toà: Ông Đặng Văn Thọ- Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 165/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1983; Địa chỉ: Tổ D, KP.9, P. H, TX. C, tỉnh Bình Phước (vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Trương Tấn Đ, sinh năm 1979; Địa chỉ: Tổ D, KP.9, P. H, thị xã C, tỉnh Bình Phước (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 28/10/2024, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Y trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Y và ông Trương Tấn Đ chung sống với nhau vào năm 2008 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C (nay là phường H, thị xã C), tỉnh Bình Phước. Trước khi chung sống cả hai còn độc thân, việc chung sống là tự nguyện.
Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã xô xát nhau, vợ chồng không có tiếng nói chung. Vợ chồng chung sống không có hạnh phúc, đã sống ly thân hơn 6 tháng nay, vợ chồng không còn liên hệ hỏi han gì, không còn liên hệ gì với nhau. Nay bà Y nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Đ.
Về nuôi con chung: Vợ chồng ông bà có 02 con chung Trương Nguyễn Anh Thư sinh ngày 18/10/2009, Trương Nguyễn Hoàng P, sinh ngày 26/02/2015, hiện đang sống cùng bà Y, bà Y yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu ông Trương Tấn Đ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Y không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Trương Tấn Đ đã được Tòa án nhiều lần triệu tập hợp lệ để làm việc, tham gia phiên họp công khai chứng cứ và tham gia phiên tòa nhưng Trương Tấn Đ vắng mặt không lý do nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của Trương Tấn Đ được.
Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn xin vắng mặt
- Bị đơn vắng mặt không có lý do
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành phát biểu ý kiến.
Việc chấp hành theo quy định pháp luật của Thẩm phán: Quá trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý cho đến nay nhận thấy Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 BLTTDS năm 2015;
Về việc chấp hành theo quy đinh pháp luật của HĐXX: Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định tại Điều 63 BLTTDS 2015;
Về việc chấp hành theo quy định của pháp luật của các đương sự: Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đã chấp hành đúng đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật
+ Quan điểm về giải quyết vụ án:
Vụ án thuộc trường hợp kiểm sát viên phải tham gia phiên tòa theo quy định tại Điều 21, Điều 97 BLTTDS
Qua nghiên cứu hồ sơ, tài liệu xét thấy:
Bà Y và ông Đ chung sống với nhau vào năm 2008 có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của ông bà là hợp pháp. Trong quá trình chung sống xét thấy ông bà thường xuyên mâu thuẫn, sống ly thân đã lâu và không còn quý trọng, quan tâm chăm sóc, yêu thương nhau nữa làm cho đời sống vợ chồng lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng.
Căn cứ Điều 51, Điều 56 luật hôn nhân và gia đình
Căn cứ vào lời khai nguyên đơn và các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án
Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử bà Nguyễn Thị Y được ly hôn với ông Trương Tấn Đ.
Về con chung: Quá trình chung sống bà Y và ông Đ có 02 con chung, bà Y yêu cầu được nuôi và không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, bà Y có nguyện vọng nuôi con chung chưa thành niên, cháu P, cháu T có nguyện vọng được ở với mẹ. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu của bà Y giao 02 con chung Trương Nguyễn Anh Thư sinh ngày 18/10/2009 và Trương Nguyễn Hoàng P, sinh ngày 26/02/2015 cho bà Y trực tiếp nuôi dưỡng. Không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con do bà Y không yêu cầu
Về án phí nguyên đơn chịu theo quy định của pháp luật
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ tranh chấp: Theo đơn khởi kiện và yêu cầu tại phiên tòa của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Y, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án hôn nhân gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo quy định tại Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Do bị đơn ông Trương Tấn Đ có nơi cư trú tại khu phố I, P. H, thị xã C, tỉnh Bình Phước. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.
[3] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa nguyên đơn bà Y vắng mặt do có đơn xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Bị đơn ông Trương Tấn Đ mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Y, Hội đồng xét xử xét thấy:
[4.1] Bà Nguyễn Thị Y và ông Trương Tấn Đ tự nguyện sống chung với nhau từ năm 2008 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước theo đúng quy định pháp luật nên hôn nhân giữa ông bà là hợp pháp.
[4.2] Trong quá trình giải quyết vụ án bà Y cho rằng quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường hay cãi vã xô xát nhau, không có tiếng nói chung. Vợ chồng chung sống không có hạnh phúc, đã sống ly thân hơn 6 tháng nay, không còn liên hệ hỏi han gì, không còn liên hệ gì với nhau. Điều này phù hợp với lời trình bày của bà Lê Thị Q là mẹ ruột bà Y, bà Q xác định vợ chồng bà Y, ông Đ chung sống có nhiều mâu thuẫn và đã sống ly thân. Xét thấy, giữa bà Y và Trương Tấn Đ chung sống thường xảy ra mâu thuẫn, đã sống ly thân, không yêu thương, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của bà Y, cho bà Y được ly hôn với Trương Tấn Đ.
[4.3] Về con chung: Quá trình chung sống bà Y và ông Đ có 02 con chung Trương Nguyễn Anh Thư sinh ngày 18/10/2009 và Trương Nguyễn Hoàng P, sinh ngày 26/02/2015, bà Y yêu cầu được nuôi cả 02 con và không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, bà Y có nguyện vọng nuôi con chung chưa thành niên, ông Đ không có ý kiến gì đối với yêu cầu của bà Y. Đồng thời cháu P, cháu T cũng có nguyện vọng muốn ở với mẹ. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu của bà Y, giao 02 con chung tên Trương Nguyễn Anh Thư S ngày 18/10/2009 và Trương Nguyễn Hoàng P, sinh ngày 26/02/2015 cho bà Y trực tiếp nuôi dưỡng. Không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con do bà Y không yêu cầu
[4.4] Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết do các đương sự không yêu cầu.
[5] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Y phải chịu là 300.000 đồng.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 143, Điều 144, Điều 147, Điều 244, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, Điều 56, 81, 82, 83,84 Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Nguyễn Thị Y được ly hôn với ông Trương Tấn Đ
Về con chung: Giao 02 con chung Trương Nguyễn Anh Thư sinh ngày 18/10/2009 và Trương Nguyễn Hoàng P, sinh ngày 26/02/2015 cho bà Nguyễn Thị Y trực tiếp nuôi dưỡng sau ly hôn. Không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con
Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Y phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004556 ngày 01/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Ung Thị Ngọc Thanh |
HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Hồ Thị Xuân Thiều Phạm Xuân Đính | Ung Thị Ngọc Thanh |
Bản án số 26/2025/HNGĐ-ST ngày 28/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Số bản án: 26/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
