|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 26/2025/HNGĐ-ST
Ngày 25-6-2025
V/v ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngà
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phan Thị Minh Phương
Bà Đặng Thị Đôi
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thanh Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Kiến Thụy xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 32/2025/TLST-HNGĐ, ngày 11 tháng 4 năm 2025 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2025/QĐXX-ST ngày 29 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 11/2025/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phạm Xuân S, sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn F, xã K, huyện K, thành phố Hải Phòng; có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Bà Ngô Thị C, sinh năm 1981; địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Thôn F, xã K, huyện K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn đề ngày 01/4/2025 và biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 21/4/2025, nguyên đơn ông S trình bày: Ông tự nguyện kết hôn với bà Ngô Thị C vào năm 2003, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, K. Quá trình chung sống, vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc cho đến đầu năm 2005 thì phát sinh mâu thuẫn ngày càng trầm trọng do không thống nhất trong làm ăn kinh tế, mất niền tin với nhau về tình cảm. Vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi mắng nhau.
Bà C tự ý bỏ đi khỏi địa phương từ tháng 5/2005 đến nay, ông không có tin tức gì. Mặc dù ông và gia đình đã đi nhiều nơi, gặp nhiều người để hỏi thăm tin tức cũng như tìm kiếm bà C nhưng không kết quả. Do đó, ông đã gửi đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy tuyên bố bà Ngô Thị C mất tích. Ngày 06/5/2024 Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy đã quyết định tuyên bố bà Ngô Thị C mất tích. Từ sau khi Tòa án tuyên bố mất tích đến nay vẫn không có tin tức gì về bà C. Do tình trạng hôn nhân ngày càng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài; ông xin ly hôn bà C.
Về con chung: Có 01 con chung là Phạm Tuấn A, sinh ngày 14/5/2004. Do con chung đã thành niên, có khả năng lao động để tự nuôi mình nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là bà Ngô Thị C đã được Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy tuyên bố mất tích tại quyết định số 04/2024/QĐST-DS ngày 06/5/2024. Sau khi Quyết định có hiệu lực pháp luật, ông S xin ly hôn bà C. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã niêm yết công khai các văn bản tố tụng theo quy định tại Điều 179 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án mở phiên tòa xét xử lần thứ hai, bà C vẫn vắng mặt và không có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện của ông S.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy phát biểu ý kiến:
- - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; tại phiên tòa, ông S vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn là bà C vắng mặt tại phiên tòa, nhưng đã có quyết định của Tòa án tuyên bố bà C mất tích; đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.
- - Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Đề nghị Hội đồng xét xử: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của ông Phạm Xuân S được ly hôn bà Ngô Thị C. Về con chung: Có 01 con là Phạm Tuấn A, sinh ngày 14/5/2004; anh Tuấn A đã thành niên nên ông S không yêu cầu giải quyết. Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét giải quyết. Về án phí: Ông S phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
2
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Ông S xin ly hôn bà C. Bà C có nơi cư trú cuối cùng tại thôn Q, xã T, huyện K; căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy.
- Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Tại phiên tòa, ông S là nguyên đơn vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; bà C là bị đơn vắng mặt nhưng đã có quyết định có hiệu lực của Tòa án tuyên bố bà C mất tích. Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Phạm Xuân S và bà Ngô Thị Chính xác L quan hệ vợ chồng theo đúng quy định về điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, Kiến Thụy ngày 10/4/2003. Quan hệ hôn nhân giữa ông S và bà C được xác định là hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng hòa thuận cho đến đầu năm 2005 thì phát sinh mâu thuẫn ngày càng trầm trọng do không thống nhất trong làm ăn kinh tế, mất niền tin với nhau về tình cảm. Vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi mắng nhau. Bà C tự ý bỏ đi khỏi địa phương từ tháng 5/2005 đến nay, ông không có tin tức gì. Mặc dù ông S và gia đình đã đi nhiều nơi, gặp nhiều người để hỏi thăm tin tức cũng như tìm kiếm bà C nhưng không kết quả. Do đó, ông S đã gửi đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy tuyên bố bà Ngô Thị C mất tích. Ngày 06/5/2024 Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy đã quyết định tuyên bố bà Ngô Thị C mất tích. Từ sau khi Tòa án tuyên bố mất tích đến nay vẫn không có tin tức gì về bà C. Nay ông S xin ly hôn bà C; Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; cần chấp nhận yêu cầu của ông S, cho ông S được ly hôn bà C là phù hợp.
- Về con chung: Ông bà có 01 con chung là Phạm Tuấn A, sinh ngày 14/5/2004. Hiện anh Tuấn A đã thành niên, ông S không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét, giải quyết.
- Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét giải quyết.
3
- Về án phí: Ông S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án dân sự không có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Phạm Xuân S được ly hôn bà Ngô Thị C.
- Về con chung: Có 01 con chung là Phạm Tuấn A, sinh ngày 14/5/2004; hiện anh Tuấn A đã thành niên, ông S không yêu cầu giải quyết nên không xem xét, giải quyết.
- Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Ông Phạm Xuân S phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm; được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 17 ngày 11 tháng 4 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Thụy. Ông Phạm Xuân S đã chịu đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| HỘI THẨM NHÂN DÂN | CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Đặng Thị Đôi |
Phạm Thị Ngà |
|
Phan Thị Minh Phương |
4
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
5
|
Phạm Thị Ngà |
6
7
8
Bản án số 26/2025/HNGĐ-ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn
- Số bản án: 26/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Xuân S và Ngô Thị C
