TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 26/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 25-3-2025
V/v: “Xin ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Ngọc Cẩm Sơn
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Trọng Vũ
- Bà Lê Hải Vân
- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Ngọc Sơn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tham gia phiên tòa:
Bà Phạm Linh Duy – Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 683/2024/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 12 năm 2024 về việc: “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXX-ST ngày 25 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa 11/2025/QĐXX-ST ngày 14 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1974
- Bị đơn: Anh Nguyễn Nhựt T, sinh năm 1982. Vắng mặt.
Nơi cư trú: Ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Bến Tre.
Nơi cư trú: Số C ấp I, xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và những lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu H trình bày:
Chị và anh T tự nguyện quen biết và cưới nhau vào năm 2015, hôn nhân tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre vào ngày 30/7/2015. Sau khi kết hôn, thời gian đầu anh chị chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2021 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính tình không còn hòa hợp, thường hay cãi vã mặc dù đã cố gắng hàn gắn nhưng vẫn không được. Do mâu thuẫn hai vợ chồng ngày càng nghiêm trọng nên chị và anh T đã sống riêng, không còn ai quan tâm gì ai, anh chị đã ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Nay chị nhận thấy giữa chị và anh T không còn tình cảm nữa, không thể tiếp tục chung sống được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh T.
Về con chung: Có một con chung tên Nguyễn Thành D, sinh ngày 22/10/2011, hiện đang sống với chị. Sau khi ly hôn chị đồng ý nuôi dưỡng con chung tên cháu Nguyễn Thành D, sinh ngày 22/10/2011, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Nguyễn Nhựt T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt nên không có lời trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị Thu H, cho chị H được ly hôn với anh T. Về con chung: Sau khi ly hôn giao con chung tên Nguyễn Thành D, sinh ngày 22/10/2011, cho chị H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: không có, không yêu cầu giải quyết. Nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1] Chị Nguyễn Thị Thu H có đơn khởi kiện xin ly hôn đối với anh Nguyễn Nhựt T, cư trú tại: Số C ấp I, xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre. Xét thấy, đây là tranh chấp về ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Do đó, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Bến Tre thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.
[2] Bị đơn anh Nguyễn Nhựt T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do nên căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh T theo thủ tục chung.
Về nội dung:
[1] Về hôn nhân: Chị H và anh T cưới nhau vào năm 2015 trên tinh thần tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre vào vào ngày 30/7/2015 nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn chị H và anh T chung sống hạnh phúc nhưng sau đó vợ chồng anh chị phát sinh mâu thuẫn nên chị H đã nộp đơn xin ly hôn với anh T.
Hội đồng xét xử thấy rằng: Cuộc sống hôn nhân của chị H và anh T thực tế là có mâu thuẫn. Bởi lẽ, vào năm 2021 thì chị H và anh T bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do hai bên bất đồng về quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, hai bên không có tiếng nói chung, anh T đi làm ít về nhà nên tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt, hai bên đã sống riêng và ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Như vậy, trong khoảng thời gian anh chị ly thân cũng là khoảng thời gian đủ để anh chị suy nghĩ hàn gắn lại tình cảm vợ chồng, tuy nhiên, anh chị vẫn không hàn gắn được mà mâu thuẫn ngày càng trở nên trầm trọng. Quá trình giải quyết vụ án, chị H xác định không còn tình cảm với anh T và kiên quyết xin ly hôn với anh T. Anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do, điều đó cho thấy anh T đã tự từ bỏ việc hàn gắn lại tình cảm vợ chồng với chị H.
Từ những căn cứ trên Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa chị H và anh T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của chị H là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2] Về con chung: Quá trình sống chung anh chị có một con chung tên Nguyễn Thành D, sinh ngày 22/10/2011 hiện đang sống với chị. Sau khi ly hôn chị đồng ý nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng.
Hội đồng xét xử xét thấy: Từ khi chị H và anh T ly thân đến nay thì cháu D là do chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và sự phát triển của cháu D hoàn toàn tốt. Anh T đã được Tòa án triệu tập để giải quyết đối với yêu cầu của chị H nhưng anh vẫn không đến nên Tòa không ghi nhận được ý kiến của anh về yêu cầu nuôi cháu D của chị H. Do đó, để đảm bảo cho sự phát triển ổn định của con chung, Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục giao cháu Nguyễn Thành D, sinh ngày 22/10/2011 cho chị H nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật và phù hợp với nguyện vọng của cháu D. Chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.
[3] Về tài sản chung: Không có không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[6] Về án phí:
Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Do yêu cầu của chị H được chấp nhận nên chị H phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 144, 147, 227, 262, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, 56, Điều 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
[1] Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thu H đối với anh Nguyễn Nhựt T. Cho chị Nguyễn Thị Thu H được ly hôn với anh Nguyễn Nhựt T.
[2] Về con chung: Sau khi ly hôn chị Nguyễn Thị Thu H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Thành D, sinh ngày 22/10/2011. Ghi nhận chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được quyền cản trở. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân tổ chức theo quy định của pháp luật Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
[3] Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng chị Nguyễn Thị Thu H phải chịu nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng mà chị H đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0006441 ngày 30 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.
Chị Nguyễn Thị Thu H có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Anh Nguyễn Nhựt T vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Võ Ngọc Cẩm Sơn |
Bản án số 26/2025/HNGĐ-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH BẾN TRE về xin ly hôn
- Số bản án: 26/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn Nguyễn Thị Thu H - Nguyễn Nhựt T
