Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

 

Bản án số: 26/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 25/02/2025

V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Minh.

Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Minh Phương.

Ông Nguyễn Văn Kỹ.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Bình - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân nhân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa:

Ông Đặng Thanh Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 54/2024/TLST-HNGĐ ngày 30/12/2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/01/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2025/QĐST-HNGĐ ngày 05/02/2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1997. HKTT: thôn Đ, xã Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
  • - Bị đơn: Anh Trần Ngọc H, sinh năm 1997. HKTT: thôn T, xã Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh. Hiện trú tại: Nhật Bản (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị B trình bày: Chị và anh Trần Ngọc H đã đăng ký kết hôn ngày 18/7/2022 tại UBND xã Đ, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh. Trước khi kết hôn chị và anh H được tự do tìm hiểu và tự nguyện lấy nhau. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống với nhau hoà thuận hạnh phúc. Tuy nhiên, sau một thời gian dài chung sống thì vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, liên tục xảy ra tranh cãi, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống hôn nhân dẫn tới quan hệ hôn nhân lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Cả hai đã cố gắng điều chỉnh cách nghĩ, thói quen sinh hoạt nhưng không thể hoà giải được những bất đồng. Nay chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H.

Về con chung, tài sản chung, công nợ: Không có.

Hiện nay, do công việc bận chị B xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn anh Trần Ngọc H đã được Tòa án thông báo, triệu tập và làm việc với người thân của anh H nhiều lần, nhưng anh H không gửi văn bản và không cung cấp địa chỉ cụ thể ở nước ngoài cho Tòa án.

Tòa án đã tiến hành làm việc với bà Nguyễn Thị H1 là mẹ đẻ của anh H, bà H1 trình bày: Bà là mẹ đẻ của Trần Ngọc H, sinh năm 1997. HKTT: Thôn T, xã Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh; hiện đang sinh sống và làm việc tại Nhật Bản. Năm 2022, bà có tổ chức đám cưới cho con trai bà với cháu Nguyễn Thị B. Trước đó năm 2019 con trai bà đã làm việc tại Nhật Bản, sau khi cưới con trai bà tiếp tục sang Nhật Bản làm việc. Bà không biết địa chỉ cụ thể của con trai bà ở Nhật Bản, bà đã hỏi nhiều lần nhưng cháu H không nói. Bà đã thông báo cho cháu H biết việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh thụ lý vụ án cháu B xin ly hôn với con trai bà thì cháu H có nhắn lại với nhờ nhắn với Tòa án như sau: “Cháu H đồng ý ly hôn với cháu B; về con chung, tài sản chung, công nợ: Không có; hiện nay cháu H làm việc rất bận nên không gửi văn bản, ý kiến về cho Tòa án được, cháu H ủy quyền cho bà nhận thay các văn bản, giấy tờ Tòa án gửi cho cháu H”.

Nay liên quan đến việc ly hôn giữa Nguyễn Thị B và con trai bà thì bà đồng ý nhận ủy quyền của cháu H, bà sẽ nhận thay cho cháu H các văn bản tố tụng của Tòa án và bà cam kết sẽ thông báo, giao lại những văn bản này cho cháu H ngay trong ngày nhận được.

Tại phiên toà nguyên đơn là chị B vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn anh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa mà không có lý do chính đáng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án là đảm bảo đúng quy định của pháp luật tố tụng. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị B, xử cho chị Nguyễn Thị B được ly hôn anh Trần Ngọc H. Về con chung, tài sản chung, công nợ: Không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Chị B phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện lời trình bày của các đương sự, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp: Theo đơn xin ly hôn, chị Nguyễn Thị B đề nghị Tòa án xem xét cho chị được ly hôn với anh Trần Ngọc H. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thì quan hệ tranh chấp trong vụ án được xác định là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.

Về thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị B trình bày bị đơn là anh Trần Ngọc H có hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh. Hiện trú tại: Nhật Bản. Căn cứ khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 38 Bộ luật Tố tụng dân sự thì tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

Việc tham gia tố tụng của các đương sự: Bị đơn anh Trần Ngọc H trong suốt quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã làm việc, yêu cầu người thân thích cung cấp địa chỉ cụ thể ở nước ngoài của anh H nhưng đều không cung cấp mặc dù anh H thường xuyên liên lạc về cho gia đình. Tòa án đã tiến hành tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật.

[2]. Về nội dung vụ án:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị B và anh H có đủ điều kiện kết hôn, khi kết hôn anh chị được tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên là hôn nhân hợp pháp cần được xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.

Sau khi kết hôn, theo chị B trình bày thời gian đầu, vợ chồng chung sống với nhau hoà thuận hạnh phúc. Tuy nhiên, sau một thời gian dài chung sống thì vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, liên tục xảy ra tranh cãi, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống hôn nhân dẫn tới quan hệ hôn nhân lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Cả hai đã cố gắng điều chỉnh cách nghĩ, thói quen sinh hoạt nhưng không thể hoà giải được những bất đồng. Hội đồng xét xử nhận thấy, tình trạng mâu thuẫn giữa chị B và anh H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Yêu cầu xin ly hôn của chị B là có căn cứ, cần chấp nhận, xử cho chị Nguyễn Thị B được ly hôn anh Trần Ngọc H.

[2.2]. Về con chung, tài sản chung, công nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[3]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị B phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 37, 38, 146, 147, 227, 228, 271, 273, 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị B.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị B được ly hôn anh Trần Ngọc H.
  2. Về con chung, tài sản chung, công nợ: Không xem xét giải quyết.
  3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị B phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị B đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng số 0000315 ngày 27/12/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
  4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Ninh;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã nơi đăng ký kết hôn;
  • - Lưu hồ sơ.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hữu Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2025/HNGĐ-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 26/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị B được ly hôn anh Trần Ngọc H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger