TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘ ĐỨC TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
Bản án số: 26/2025/HNGĐ-ST
Ngày 23-6-2025
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘ ĐỨC, TỈNH QUẢNG NGÃI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà: Ông Đàm Quang Hiệp.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Minh Bạch
- Bà Nguyễn Thị Búp
Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Bích Thuyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Thu Nguyệt - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 122/2024/TLST-HNGĐ, ngày 14 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 15 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2025/QÐST-HNGĐ, ngày 06 tháng 6 năm 2026, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hồng Đ
- Địa chỉ: Đ, thôn H, xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi
- - Bị đơn: Anh Trần D
- Địa chỉ: KDC A, thôn T, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi.
Nguyên đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 04/10/2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng Đ trình bày: Chị với anh D tự nguyện đi đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn ngày 17/7/2017 tại UBND xã Đ. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc và có 02 con chung, nhưng sau đó thì có nhiều mâu thuẫn, không hợp tính nhau, thường xuyên bất đồng quan điểm trong cuộc sống, sống không có hạnh phúc, anh D không có công việc ổn định, không có trách nhiệm với vợ con, thường xuyên gây gỗ với chị, anh cùng bố mẹ anh đuổi chị ra khỏi nhà, mâu thuẫn ngày càng nghiêm trọng nên vợ chồng chị đã ly thân từ tháng 7 năm 2023 cho đến nay, phần ai nấy sống, không quan tâm đến nhau. Nay tình cảm vợ chồng không còn thương yêu nhau, nên chị yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Mộ Đức giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần D
Về con chung: Có 02 con chung tên Trần Thị K, sinh ngày 07/9/2010 và Trần Văn T, sinh ngày 01/8/2013. Từ khi vợ chồng ly thân thì cháu K chung sống với chị, cháu T chung sống với anh D, nên khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi con chung tên K, giao con chung tên T cho anh D nuôi dưỡng. Không bên nào phải cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Đ khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết
* Tại biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 21 tháng 01 năm 2025, anh Trần D khai như sau: Vợ chồng anh chung sống với nhau đến nay đã hơn 15 năm, nhưng kết hôn cách nay khoảng 05 (năm) năm. Quá trình chung sống thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nên cô Đ đã làm đơn khởi kiện xin ly hôn anh. Việc cô Nguyễn Thị Hồng Đ yêu cầu được ly hôn thì anh đồng ý.
Về con chung: Đến nay vợ chồng có 02 con tên Trần Thị K, sinh ngày 07/9/2010 và Trần Văn T, sinh ngày 01/8/2013. Khi ly hôn, anh yêu cầu được nuôi cháu T, cháu K thì mẹ nuôi. Không bên nào phải cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung, nợ chung: không có.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức:
- - Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đúng quy định tại các Điều 70, 71; bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Về nội dung:
- + Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng Đ; cho chị Nguyễn Thị Hồng Đ được ly hôn anh Trần D.
- + Về con chung: Giao cháu Trần Thị K, sinh ngày 07/9/2010 cho chị Nguyễn Thị Hồng Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng; anh Trần D nuôi cháu Trần Văn T, sinh ngày 01/8/2013, không bên nào cấp dưỡng cho con.
- + Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.
Ngoài ra các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
- Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn Nguyễn Thị Hồng Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết “Ly hôn; tranh chấp về nuôi con” với bị đơn anh Trần D. Trong vụ án này, bị đơn anh D có địa chỉ nơi cư trú tại: KDC A, thôn T, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi. Do đó, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.
- Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy triệu tập cho bị đơn tham gia phiên tòa nhưng tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
- Về nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng Đ và bị đơn anh Trần D tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện M vào ngày 17/7/2017, vì vậy quan hệ hôn nhân giữa chị Đ và anh D là hợp pháp. Xét yêu cầu ly hôn của chị Đ, Hội đồng xét xử thấy rằng: Chị Đ và anh D tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2009 nhưng đến năm 2017 mới đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống, vợ chồng có nhiều bất đồng về quan điểm, cuộc sống của vợ chồng không có hạnh phúc. Việc chị Đ xin ly hôn, anh D đồng ý. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, anh D nhận các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không đến Tòa án làm việc theo quy định của pháp luật, chính vì vậy mà Tòa án không ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Đ và anh D được. Hiện nay, chị Đ và anh D phần ai người đó sống, không quan tâm, chăm sóc gì lẫn nhau là vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình. Thực tế trên đã xác định, tình trạng hôn nhân của vợ chồng chị Đ và anh D đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử cho chị Đ được ly hôn anh D là hoàn toàn phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về nuôi dưỡng con chung:
Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và trình bày của nguyên đơn, có căn cứ xác định: Chị Nguyễn Thị Hồng Đ và anh Trần D có 02 con chung là Trần Thị K, sinh ngày 07/9/2010 và Trần Văn T, sinh ngày 01/8/2013. Xét yêu cầu nuôi con chung của chị Đ và anh D, Hội đồng xét xử xét thấy: Từ khi vợ chồng ly thân thì cháu K chung sống với chị Đ còn cháu T chung sống với anh D. Hơn nữa, nguyện vọng của các con chung đều phù hợp với yêu cầu của các bên đương sự. Do đó, để đảm bảo ổn định về cuộc sống và các điều kiện phát triển về mọi mặt của con chưa thành niên. Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu Trần Thị K, sinh ngày 07/9/2010 cho chị Nguyễn Thị Hồng Đ và giao cháu Trần Văn T, sinh ngày 01/8/2013 cho anh Trần D tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng là hoàn toàn hợp lý.
- Về cấp dưỡng cho con: Chị Đ và anh D không yêu cầu cấp dưỡng cho con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Đ và anh D khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí:
Chị Nguyễn Thị Hồng Đ phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân.
- Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức tham gia phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 144, 147, 227, 228, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 19, 51, 56, 81, 82 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng Đ.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hồng Đ được ly hôn anh Trần D
- Về con chung: Giao cháu Trần Thị K, sinh ngày 07/9/2010 cho chị Nguyễn Thị Hồng Đ tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng; Giao cháu Trần Văn T, sinh ngày 01/8/2013 cho anh Trần D tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Không bên nào phải cấp dưỡng cho con.
Anh Dũng, chị Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hồng Đ phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí do chị Đ nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004510 ngày 14/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đàm Quang Hiệp |
Bản án số 26/2025/HNGĐ-ST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘ ĐỨC, TỈNH QUẢNG NGÃI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 26/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘ ĐỨC, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: lH
