|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 26/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 17 – 3 – 2025
“V/v ly hôn giữa chị Tâm và anh Hùng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Diễm Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thị Dung
- Ông Phan Công Ny
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thùy Mỵ – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
Trong ngày 17 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số 540/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2024 về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2025/QĐXXST-HN ngày 06 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 33/2025/QĐST-HN ngày 27 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trương Thị Minh T, sinh năm 1976.
Địa chỉ: 1 đường C, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn: Ông Lê Tiến H, sinh năm 1972 (vắng mặt).
Địa chỉ: 1 N, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết nguyên đơn bà Trương Thị Minh T có tự khai trình bày:
- Năm 2000, bà và ông Lê Tiến H tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn vào ngày 02/10/2000 tại UBND phường A cũ (nay là phường T), quận N, thành phố Cần Thơ. Quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, đời sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm không thể hàn gắn được. bà và ông H đã sống ly thân hơn 16 năm nay. Nay để chấm dứt về mặt pháp luật nên bà xin được ly hôn ông Lê Tiến H, sinh năm 1972.
- Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân bà và ông H có 02 con chung là Lê Minh H1 (nam), sinh ngày 23/9/2000 và Lê Thị Minh T1 (nữ), sinh ngày 18/5/2008. Con chung Minh H1 đã trưởng thành nên bà không có yêu cầu giải quyết. Về con chung Minh Thảo bà xin được trực tiếp nuôi dưỡng, bà không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung trong thời kỳ hôn nhân: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Lê Tiến H vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa:
Phía nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu xin được ly hôn với ông Lê Tiến H, xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Lê Thị Minh T1 (nữ), sinh ngày 18/5/2008 cho đến lúc trưởng thành và không yêu cầu ông H cấp dưỡng, tài sản và nợ chung không có.
Phía bị đơn – ông H vắng mặt nên bà đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt ông H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ nhận định:
Về thủ tục:
Ông Lê Tiến H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông H vắng nhà thường xuyên nên không thực hiện được việc cấp, tống đạt các văn bản tố tụng. Để đảm bảo thủ tục tố tụng, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng tại nơi cư trú của ông H, tại trụ sở Ủy ban nhân dân phường T, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều theo quy định tại Điều 179, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Do vậy, Tòa án áp dụng Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt ông H là phù hợp quy định của pháp luật.
Xét về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền thụ lý:
Bà Trương Thị Minh T và ông Lê Tiến H có đăng ký kết hôn vào ngày 02/10/2000 tại UBND phường A cũ (nay là phường T), quận N, Tp . nên xác định đây là hôn nhân hợp pháp, khi có phát sinh tranh chấp sẽ thuộc sự điều chỉnh của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Nguyên đơn và bị đơn có tranh chấp về quan hệ hôn nhân và con chung nên xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con chung”. Do bị đơn ông H có địa chỉ nơi cư trú tại quận N nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về quan hệ hôn nhân:
Nguyên đơn bà Minh T trình bày rằng hôn nhân ban đầu là tự tìm hiểu, có tự nguyện tiến tới hôn nhân. Trong quá trình chung sống giữa bà và ông H thời gian đầu hạnh phúc. Tuy nhiên đến năm 2009 giữa vợ chồng có phát sinh nhiều mâu thuẫn đến nay không giải quyết được, đời sống chung không hạnh phúc và mục đích hôn nhân không đạt được. Cả hai đã có thời gian dài sống ly thân (hơn 16 năm). Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập các bên để thực hiện thủ tục hòa giải nhằm hàn gắn hạnh phúc cho cả hai. Tuy nhiên, bị đơn ông H không đến Tòa án để hòa giải nên điều này chứng tỏ mâu thuẫn giữa bà T và ông H đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc duy trì đời sống vợ chồng cũng không còn ý nghĩa. Do đó, Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trương Thị Minh T đối với ông Lê Tiến H theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung:
Giữa bà Trương Thị Minh T đối với ông Lê Tiến H có 02 con chung là cháu Lê Minh H1 (nam), sinh ngày 23/9/2000 và Lê Thị Minh T1 (nữ), sinh ngày 18/5/2008. Con chung Minh H1 đã trưởng thành nên bà không có yêu cầu giải quyết. Về con chung Minh T1, bà T xin được trực tiếp nuôi dưỡng, bà không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung. Đồng thời cháu Minh T1 đã trên 07 tuổi, có tự khai muốn sống chung với mẹ nên Hội đồng xét xử ghi nhận, giao con chung là cháu Lê Thị Minh T1 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Đối với cháu Lê Minh H1, nam (sinh ngày 23/9/2000) đã trên 18 tuổi nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét đối với cháu H1.
Về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con:
Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung do bà T không có yêu cầu, bị đơn ông H không có ý kiến. Việc không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung là sự tự nguyện của bà T nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Vì lợi ích mọi mặt của cháu Lê Thị Minh T1, Hội đồng xét xử cũng căn cứ vào quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình để dành quyền lợi được thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho ông H không ai được quyền cản trở. Đồng thời người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Ngoài ra, các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi quyền nuôi con và thay đổi yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung, nợ chung:
Bà T trình bày không có và do xét xử vắng mặt ông H nên không đặt ra xem xét, nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm:
Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 1 Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326 ngày 26/12/2016 của Hội đồng thẩm phán, Tòa án nhân dân tối cao quy định án phí, lệ phí tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Trương Thị Minh T và ông Lê Tiến H.
- Về con chung: Giao con chung là cháu Lê Thị Minh T1 (nữ), sinh ngày 18/5/2008 cho bà Trương Thị Minh T trực tiếp nuôi dưỡng, ông Lê Tiến H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Vì lợi ích mọi mặt của cháu Lê Thị Minh T1 dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho ông Lê Tiến H không ai được quyền cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Ngoài ra, các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi quyền nuôi con và thay đổi yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra xem xét, nếu sau này phát sinh tranh chấp sẽ khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết thành một vụ kiện khác.
- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Nguyên đơn bà Trương Thị Minh T phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Nguyên đơn bà T đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0000888 ngày 02/12/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ được chuyển thành án phí hôn nhân.
- Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- - TANDTPCT;
- - VKSNDQNK;
- - THADSQNK;
- - CAQNK;
- - Các đs;
- - UBND p. Tân An;
- - Lưu hồ sơ vụ án.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà ĐỖ THỊ DIỄM TRANG |
Bản án số 26/2025/HNGĐ-ST ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về ly hôn và tranh chấp nuôi con chung
- Số bản án: 26/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Tâm ly hôn anh Hùng
