Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỆ THỦY

TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26 /2025/HNGĐ-ST

Ngày: 13/6/2025

“V/v: Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hải;

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hồng Minh và ông Lê Ngọc Thành;

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thơm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.

Trong ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình mở phiên tòa xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số 62/2025/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2025/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Thái Thị L, sinh năm 1974, địa chỉ: Đ, thôn L, xã A, huyện L, tỉnh Quảng Bình; địa chỉ liên hệ: Xóm E, thôn M, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình, có mặt;

- Bị đơn: Ông Ngô Mậu T, sinh năm 1970, địa chỉ: Đ, thôn L, xã A, huyện L, tỉnh Quảng Bình, có mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn bà Thái Thị L trong bản tự khai ngày 16/5/2025 và tại phiên toà trình bày:

- Về tình cảm: Bà và ông Ngô Mậu T yêu nhau, xây dựng hạnh phúc gia đình trên cơ sở có đăng ký kết hôn tự nguyện tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Quảng Bình vào ngày 09/12/1997. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại đội 4, thôn L. Vợ chồng sống hạnh phúc với nhau được khoảng 10 năm thì bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông T thường xuyên uống rượu, gây gỗ, đánh đập bà thậm tệ. Đã rất nhiều lần bà L khuyên ngăn nhưng ông T vẫn chứng nào tật đó không chịu thay đổi, không có ý thức chăm lo vun vén hạnh phúc gia đình. Xác định tình cảm vợ chồng đã hết nên bà đề nghị Toà án giải quyết cho bà được ly hôn ông Ngô Mậu T.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Ngô Thị Như Q, sinh năm 1995. Hiện nay, con chung đã trưởng thành, có cuộc sống riêng nên bà L không yêu cầu Toà án giải quyết.

2

- Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thoả thuận về tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

*Bị đơn ông Ngô Mậu T trong bản tự khai ngày 16/5/2025 và tại phiên tòa trình bày:

- Về tình cảm: Ông T thừa nhận như lời trình bày của bà L về quá trình yêu nhau, kết hôn của vợ chồng. Ông không nhất trí về nguyên nhân nảy sinh mâu thuẫn của vợ chồng. Theo ông T, sau khi kết hôn, vợ chồng ông chung sống hạnh phúc được khoảng 27 năm thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông uống rượu nhiều nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vả. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 2 năm 2025 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng vẫn còn nên bà L xin ly hôn ông không đồng ý, ông mong muốn vợ chồng đoàn tụ để cùng nhau nương tựa khi về già.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Ngô Thị Như Q, sinh năm 1995. Hiện nay, con chung đã trưởng thành, có cuộc sống riêng nên nếu vợ chồng phải ly hôn, ông không yêu cầu Toà án giải quyết về con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Ông có nguyện vọng vợ, chồng được đoàn tụ, tuy nhiên trong trường hợp vợ chồng phải ly hôn thì vợ, chồng ông tự thoả thuận về tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Yêu cầu khởi kiện của bà Thái Thị L xin ly hôn ông Ngô Mậu T là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, về ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Toà án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình thụ lý giải quyết là đúng quy định của pháp luật.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa, bà Thái Thị L và ông Ngô Mậu T kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Quảng Bình vào ngày 09/12/1997 nên hôn nhân của ông, bà là hợp pháp.

[3] Về mâu thuẫn: Theo trình bày của nguyên đơn, bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 10 năm đầu thì vợ chồng bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông T thường xuyên uống rượu nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vả, làm sứt mẻ tình cảm. Trong lúc nóng giận, ông T có buông lời chửi bới, đánh đập bà L. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 02/2025 cho đến nay, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Nhận thấy tình cảm vợ chồng đã hết, hôn nhân không thể kéo dài nên bà L xin ly hôn ông T. Ông T thừa nhận mâu thuẫn vợ chồng là do ông. Tuy nhiên, ông nhận thấy tình cảm vợ chồng vẫn còn nên ông mong muốn vợ chồng được đoàn tụ để cùng nhau nương tựa khi về già, ông không đồng ý ly hôn bà L.

3

[4] Qua xem xét, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo thừa nhận của các bên thì, mâu thuẫn vợ, chồng giữa bà Thái Thị L và ông Ngô Mậu T thực tế đã xảy ra, do vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng về quan điểm sống nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vả. Ông T thường xuyên uống rượu, buông lời chửi bới, đánh đập bà L, không quan tâm vun vén xây dựng hạnh phúc gia đình. Xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ tôn trọng, chăm sóc lẫn nhau và tình cảm phải xuất phát từ sự chân thành của hai phía. Nếu một bên xác định tình cảm vợ chồng không còn, kiên quyết được ly hôn thì dù có hàn gắn đoàn tụ, cuộc sống chung giữa vợ và chồng cũng không thể mang lại hạnh phúc. Ông T đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân gia đình làm cho tình cảm vợ chồng lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, cho bà Thái Thị L được ly hôn ông Ngô Mậu T là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

[5] Về nuôi con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Ngô Thị Như Q, sinh năm 1995. Hiện nay, con chung đã trưởng thành, ông T, bà L không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về tài sản chung, nợ chung: Ông T mong muốn vợ chồng được đoàn tụ nên việc chia tài sản chung, nợ chung ông không đặt ra. Tuy nhiên, nếu trường hợp vợ chồng phải ly hôn, ông thống nhất với bà L về việc vợ chồng tự thoả thuận về tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[7] Về án phí: Nguyên đơn bà Thái Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 227, Điều 264, Điều 266 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho bà Thái Thị L được ly hôn với ông Ngô Mậu T.
  2. Về nuôi con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Ngô Thị Như Q, sinh năm 1995. Hiện nay, con chung đã trưởng thành, ông T, bà L không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thoả thuận về tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  4. Về án phí: Nguyên đơn bà Thái Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm 300.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0004589 ngày

4

15/4/2025 (bà Thái Thị L đã nộp đủ án phí). Bị đơn ông Ngô Mậu T không phải chịu án phí.

  1. Quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên toà, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 13/6/2025) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Bình;
  • - VKSND huyện Lệ Thủy;
  • - THADS huyện Lệ Thủy;
  • - UBND xã Lộc Thuỷ (để ghi vào sổ
  • Hộ tịch, ĐKKH ngày 09/12/1997);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2025/HNGĐ-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH về ly hôn

  • Số bản án: 26/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger