Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NHA TRANG

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 12/3/2025
V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Đăng Thanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Trần Khoa

Bà Nguyễn Thùy Dương

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Hữu Yến Vân – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Bích H – Kiểm sát viên

Ngày 12 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 786/2024/TLST-HNGĐ ngày 01/10/2024 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/02/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2025/QĐST-HNGĐ ngày 24/02/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim T, sinh năm: 1997; Cư trú tại: Khu phố P, thị xã S, phường X, tỉnh Phú Yên; có mặt.

Bị đơn: Ông Phạm Xuân D, sinh năm: 1983; Cư trú tại: Ô, Lô C Đ, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim T trình bày: Bà và ông Phạm Xuân D đăng ký kết hôn tại UBND xã V vào ngày 02/4/2019. Quá trình chung sống vợ chồng không hạnh phúc có nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã và cuộc sống trở nên nặng nề. Ngoài ra, ông D còn chơi ma túy đá, về nhà đánh đập tôi, tôi sợ nên đã về gia đình mẹ sinh sống. Hiện nay, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài. Nay bà không còn tình cảm với ông D nên xin ly hôn.

Về con chung: Bà và ông D có 01 con chung là cháu Phạm Minh K, sinh ngày 23/6/2020. Nguyện vọng của bà được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu K. Bà không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà không yêu cầu tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Phạm Xuân D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng cố tình trốn tránh không có mặt nên không có bản tự khai và không tiến hành hòa giải được.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tại phiên tòa sơ thẩm:

Về chấp hành pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội thẩm nhân dân và nguyên đơn đã chấp hành đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra công khai tại phiên tòa nhận thấy có đủ cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà Nguyễn Thị Kim T được ly hôn với ông Phạm Xuân D. Về con chung: Giao 01 con chung là Phạm Minh K, sinh ngày 23/6/2020 cho bà T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Bà T không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi conh chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà T không yêu cầu tòa giải quyết.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kim T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Phạm Xuân D có hộ khẩu thường trú tại Ô, Lô C Đ, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Hiện ông D thường xuyên vắng mặt ở nhà, thỉnh thoảng mới về nên không đến Tòa để giải quyết vụ án. Tòa án đã tiến hành các thủ tục niêm yết và tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Do vậy, căn cứ khoản 1, Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 39; Điều 207; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là có căn cứ.

[2] Về nội dung vụ án: Bà Nguyễn Thị Kim T và ông Phạm Xuân D tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2020, có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, thành phố N, đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, trong cuộc sống hàng ngày thường xuyên xảy ra cãi vả và cuộc sống nặng nề. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông D không đến Tòa án để giải quyết vụ án chứng tỏ ông D không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với bà T.

Hội đồng xét xử thấy rằng tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn là phù hợp và thỏa đáng.

[3] Về con chung: Bà T và ông D có 01 con chung là Phạm Minh K, sinh ngày: 23/6/2020. Hiện nay, cháu K còn nhỏ. Từ trước đến nay việc chăm sóc cháu K do bà T chăm sóc, nuôi dưỡng và bà cũng có nguyện vọng được nuôi cháu nên tiếp tục giao cháu K cho bà T trực tiếp chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng là có căn cứ. Bà T không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con chung.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Bà T không yêu cầu tòa án giải quyết.

[5] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kim T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1, Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 39; Điều 207, khoản 2, Điều 227 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim T được ly hôn với ông Phạm Xuân D.

Về con chung: Giao 01 con chung là Phạm Minh K, sinh ngày: 23/6/2020 cho bà Nguyễn Thị Kim T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Bà T không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con chung.

Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con. Ông D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà T không yêu cầu tòa án giải quyết.

2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kim T phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0002939 ngày 01 tháng 10 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Nha Trang. Bà T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Khánh Hòa;
  • Trang;
  • - Chi cục THADS thành phố Nha Trang;
  • - UBND xã Vĩnh Thái, thành phố Nha Trang (Giấy KH số 17 ngày 02/4/2019)
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hữu Đăng Thanh

Thành viên hội đồng xét xử

Hồ Sỹ Hoài – Nguyễn Ngọc Ngân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Hữu Đăng Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2025/HNGĐ-ST ngày 12/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA về ly hôn

  • Số bản án: 26/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 12 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 786/2024/TLST-HNGĐ ngày 01/10/2024 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/02/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2025/QĐST-HNGĐ ngày 24/02/2025 giữa các đương sự: Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim T, sinh năm: 1997; Cư trú tại: Khu phố P, thị xã S, phường X, tỉnh Phú Yên; có mặt. Bị đơn: Ông Phạm Xuân D, sinh năm: 1983; Cư trú tại: Ô, Lô C Đ, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger