TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẬP TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 26/2025/HNGĐ-ST.
Ngày: 10 - 6 - 2025
V/v tranh chấp “Hôn nhân và gia đình”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẬP, TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Anh Xuân Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Thẩm Văn Minh, ông Phạm Đức Hải
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Huy, là Thư ký viên của Toà án nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông Bùi Tiến Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2025. Tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 22/2025/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2025 về “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2025; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Khấu Thị T, sinh năm 1990; Địa chỉ: Khu T, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Phú Thọ; (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Bùi Tiến H, sinh năm 1992; Địa chỉ: Khu T, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Phú Thọ; (có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và lời khai tại Tòa án, nguyên đơn là chị Khấu Thị T trình bày:
- Về hôn nhân: Chị Khấu Thị T và anh Bùi Tiến H đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Phú Thọ vào ngày 09/4/2018 trên cơ sở tự nguyện. Cuộc sống vợ chồng thời gian đầu chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Đến tháng 03/2024 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, không có tiếng nói chung, cuộc sống không có hạnh phúc. Chị đã cố gắng khắc phục mâu thuẫn vợ chồng nhưng không khắc phục được. Nay chị T đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H.
- Về con chung: Chị T và anh H có 01 con chung là cháu Bùi Như T1, sinh ngày 02/12/2021. Khi ly hôn, chị T đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T1; không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, công nợ chung và công sức đóng góp: Chị T không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Tại bản tự khai, bị đơn là anh Bùi Tiến H trình bày:
- Về hôn nhân: Anh H xác định việc kết hôn, quá trình chung sống vợ chồng đúng như chị T đã trình bày. Anh H xác định vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn vì không có tiếng nói chung, thường cãi vã nhau. Chị T đã bỏ nhà đi, vợ chồng đã sống ly thân. Anh H xác định vợ chồng vẫn còn khả năng để đoàn tụ và muốn có thêm thời gian để hai bên hòa giải nên anh chưa đồng ý ly hôn với chị T.
- Về con chung: Anh H xác định vợ chồng có 01 con chung đúng như chị T đã trình bày. Hiện cháu T1 đang ở cùng chị T. Nếu ly hôn xảy ra, anh H đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T1; không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, công nợ chung và công sức đóng góp: Anh H không đề nghị Tòa án giải quyết.
Để có căn cứ giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân và con chung của chị T và anh H. Chính quyền địa phương đã xác nhận cuộc sống vợ chồng chị T anh H xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống; không cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình. Cách đây khoảng 2 năm thì chị T đã rời khỏi địa phương, không chung sống cùng anh H nữa. Chị T và anh H có 01 con chung là cháu Bùi Như T1, sinh ngày 02/12/2021. Khi rời khỏi địa phương để đi làm thì chị T đã đưa cháu T1 đi cùng.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lập phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện, chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa nguyên đơn chị Khấu Thị T và bị đơn anh Bùi Tiến H vắng mặt, nhưng đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt các bên đương sự là phù hợp, đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: Điều 56; Điều 58; Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự. Áp dụng điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Khấu Thị T
- Về hôn nhân: Xử cho chị Khấu Thị T được ly hôn anh Bùi Tiến H.
- Về con chung: Giao con chung là cháu Bùi Như T1, sinh ngày 02/12/2021 cho chị Khấu Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục kể từ khi ly hôn đến khi con chung thành niên. Anh Bùi Tiến H không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị T tự nguyện không yêu cầu. Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, công nợ chung và công sức đóng góp: Không đặt ra xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Nguyên đơn chị Khấu Thị T phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, lời khai của đương sự, phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về tố tụng dân sự: Tranh chấp giữa chị Khấu Thị T và anh Bùi Tiến H là “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình”. Bị đơn là anh H có nơi cư trú tại thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Phú Thọ. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28, Điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
2. Về ý kiến và yêu cầu của đương sự:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Khấu Thị T và anh Bùi Tiến H đảm bảo các quy định về điều kiện kết hôn và không thuộc trường hợp cấm kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên đó là hôn nhân hợp pháp.
Hội đồng xét xử nhận thấy: Quá trình chung sống giữa chị T và anh H có xảy ra mâu thuẫn, hiện tại vợ chồng đã sống ly thân mỗi người một nơi, không quan tâm đến nhau nữa. Điều này chứng tỏ tình cảm vợ chồng đã không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên việc chị T xin ly hôn anh H là phù hợp cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T.
[2] Về con chung: Chị T và anh H có 01 con chung là cháu Bùi Như T1, sinh ngày 02/12/2021. Chị T và anh H đều có đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T1.
Hội đồng xét xử thấy rằng: Chị T và anh H đều có đủ điều kiện về chỗ ở và thu nhập để nuôi con chung. Tuy nhiên, kể từ khi chị T và anh H sống ly thân cho tới nay thì cháu T1 đang sống ổn định với chị T, được chị T gần gũi, thương yêu, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; cháu T1 giới tính là nữ nên ở cùng mẹ sẽ tốt hơn trong việc giáo dục giới tính. Mặt khác anh H thường xuyên đi làm xa, anh H sẽ nhờ mẹ đẻ hỗ trợ nuôi cháu T1 là không bảo đảm. Do vậy cần giao cháu Bùi Như T1 cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục là hoàn toàn phù hợp. Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị T tự nguyện không yêu cầu. Anh H có quyền và nghĩa vụ thăm nom chăm sóc con chung không ai được cản trở.
[3] Về tài sản chung; công nợ chung và công sức đóng góp: Chị T không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về án phí: Chị Khấu Thị T phải chịu 300.000đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Khoản 1 Điều 227; Khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự;
Căn cứ điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Khấu Thị T về việc xin ly hôn anh Bùi Tiến H.
- Về hôn nhân: Xử chị Khấu Thị T được ly hôn anh Bùi Tiến H.
- Về con chung: Giao cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Bùi Như T1, sinh ngày 02/12/2021; kể từ khi ly hôn đến khi thành niên. Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị T tự nguyện không yêu cầu và có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí lệ phí số 0006349 ngày 21/02/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án.
Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật, để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Anh Xuân Ngọc |
Bản án số 26/2025/HNGĐ-ST ngày 10/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẬP, TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 26/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẬP, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử chị Thể được ly hôn anh Hùng
