Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRI TÔN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số:26/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 10-04-2025

V/v "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Hiếu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chau Khon Sốc;

Ông Chau Rót Tha.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Lê Ngọc Trân– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn tham gia phiên tòa: Ông Chau San - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 329/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:10/2025/QĐSXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 19/2024/QĐSXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Neàng Kim N, sinh năm 2004; Nơi cư trú: Tổ A, ấp S, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang.
  2. Bị đơn: Ông Chau Som R, sinh năm 2002; Nơi cư trú: Tổ B, ấp P, xã Ô, huyện T, tỉnh An Giang.

(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, tờ tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Neàng Kim N trình bày:

  • - Về hôn nhân: Bà Neàng Kim N và ông Chau Som R do tự quen biết, tìm hiểu và tiến tới kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào năm 2021 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, thị xã T, tỉnh An Giang vào ngày 22/03/2023. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, nhưng thời gian sau vợ chồng mẫu thuẫn ngày càng nhiều do tính tình không phù hợp, bất đồng quan điểm sống, ông R không quan tâm lo lắng cho vợ con và vợ chồng không còn thương yêu nhau, trong quá trình chung sống ông R có nhiều lời nói xúc phạm đến danh dự của bà N. Bà N và ông R không còn sống cùng nhau từ cuối năm 2024 đến nay, từ thời gian đó đến nay cả hai không có thiện chí đoàn tụ, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn. Nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt nên bà Neàng Kim N yêu cầu được ly hôn với ông Chau Som R.
  • - Về con chung: Bà N và ông R có 01 (một) con chung tên Neàng Na R1, sinh ngày 28/8/2023. Hiện con chung do bà N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Khi ly hôn, bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung.
  • - Về cấp dưỡng: Không yêu cầu ông R cấp dưỡng nuôi con.
  • - Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Chau S Ron vắng mặt, không cung cấp tài liệu, chứng cứ, không cung cấp ý kiến trình bày.

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành hòa giải vụ án, nhưng bị đơn vắng mặt vì vậy các đương sự không hòa giải được với nhau. Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử.

Tại phiên tòa,

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiên về ly hôn, đồng thời bà Neàng Kim N trình bày bà có khả năng nghe, đọc và hiểu tiếng Việt, không cần người phiên dịch; Bị đơn vắng mặt không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử vụ án;

Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn vắng mặt dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 nên đề nghị xét xử vắng mặt bị đơn.

+ Về nội dung vụ án:

  • Về hôn nhân: Bà N và ông R tiến tới hôn nhân trên cơ sở tự nguyện vào năm 2023 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, thị xã T, tỉnh An Giang vào ngày 22/03/2023, nên cả hai là vợ chồng hợp pháp, trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn không hàn gắn, thời gian ly thân đã lâu không thể đoàn tụ được, hôn nhân đã mâu thuẫn trầm trọng nên bà N khởi kiện yêu cầu ly hôn ông R là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
  • Về con chung: Bà N và ông R có 01 (một) con chung tên Neàng Na R1, sinh ngày 28/8/2023. Hiện con chung do bà N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Khi ly hôn, bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Để đảm bảo sự ổn định về tinh thần và quyền lợi về mọi mặt, không làm xáo trộn cuộc sống con chung đề nghị giao con chung cho bà N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng theo quy định tại Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.
  • Về cấp dưỡng: Do không có yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
  • Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng: Bà Neàng Kim N yêu cầu Tòa án giải quyết việc tranh chấp về hôn nhân gia đình với ông Chau Som R. Ông R có nơi cư trú tại xã Ô, huyện T, tỉnh An Giang. Nên, Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định tại các Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

    Tại phiên tòa, ông Chau Som R vắng mặt dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông R.

  2. Về hôn nhân: Bà N và ông R do tự quen biết, tìm hiểu và tiến tới kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào năm 2023 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, thị xã T, tỉnh An Giang vào ngày 22/03/2023 nên được pháp luật công nhận là vợ chồng theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và G. Bà N trình bày nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu do tính tình không phù hợp, bất đồng quan điểm sống, ông R không quan tâm lo lắng cho vợ con và vợ chồng không còn thương yêu nhau, quá trình chung sống ông R nhiều lần có lời lẽ xúc phạm bà N. Bà N và ông R không còn sống cùng nhau từ cuối năm 2024 đến nay, nhưng từ thời gian đó đến nay cả bà N và ông R đều không có thiện chí đoàn tụ, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn. Nay thấy không còn tình cảm với ông R nên bà N yêu cầu được ly hôn với ông Chau Som R.

    Trong quá trình giải quyết vụ án, ông R vắng mặt không lý do, theo Biên bản xác minh của Tòa án tại địa phương trả kết quả thể hiện: Ông Chau Som R, có đăng ký thường trú tại ấp P, xã Ô, huyện T, tỉnh An Giang. Do bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt, đồng thời không cung cấp tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình và thể hiện ý kiến phản bác đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông R đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại khoản 5 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.

    Xét thấy, trong mối quan hệ vợ chồng, thì cả hai phải có nghĩa vụ yêu thương, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, để cùng vun đắp hạnh phúc. Tuy nhiên gia đình ông R, bà N phát sinh nhiều mâu thuẫn không có giải pháp hòa giải, hàn gắn tình cảm. Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông R tham gia hòa giải và xét xử đến lần thứ hai nhưng ông R vẫn vắng mặt không có lý do, thể hiện ông R không muốn hàn gắn quan hệ vợ chồng. Bà N trình bày mâu thuẫn vợ chồng phát sinh và vợ chồng đã sống ly thân từ cuối năm 2024 đến nay mà không thể đoàn tụ, nên bà N cương quyết ly hôn ông R. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân của bà N và ông R đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu duy trì hôn nhân cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà N được ly hôn ông R.

  3. Về con chung: Bà N và ông R có 01 (một) con chung tên Neàng Na R1, sinh ngày 28/8/2023. Hiện con chung do bà N chăm sóc, nuôi dưỡng. Khi ly hôn, bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Do ông R không có tranh chấp nuôi con chung, con chung hiện chưa thành niên, xét về điều kiện, bà N đang là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung, để đảm bảo cho cuộc sống ổn định của con chung. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung khi ly hôn.

    Bà N cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông R trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

  4. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xét đến.
  5. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xét đến.
  6. Về án phí: Bà Neàng Kim N phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định pháp luật.

    Ông Chau Som R không phải chịu án phí.

  7. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được kháng cáo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228, Điều 244; khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280; Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • - Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Neàng Kim N.

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Neàng Kim N đối với ông Chau Som R.
  2. Về con chung: Giao con chung tên Neàng Na R1, sinh ngày 28/8/2023 cho bà Neàng Kim N được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

    Bà Neàng Kim N và gia đình phải tạo điều kiện thuận lợi cho ông Chau Som R được thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

    Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

  3. Về án phí: Bà Neàng Kim N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0012753, ngày 17 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tri Tôn. Bà Neàng Kim N đã nộp xong án phí.
  4. Về quyền kháng cáo:

    Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

    Bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND huyện Tri Tôn;
  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - Chi cục THADS huyện Tri Tôn;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu VP (6).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Trung Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2025/HNGĐ-ST ngày 10/04/2025 của Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 26/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger