Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẠC LIÊU

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2025/HNGĐ-ST

Ngày 08 tháng 4 năm 2025

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Hồng Trinh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Dư Thị Út
  2. Bà Khưu Liên Dung

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tố Như - Kiểm sát viên.

Trong ngày 08 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 530/2024/TLST- HNGĐ ngày 10 tháng 12 năm 2024 về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2025/QĐXX-ST ngày21 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1973. Địa chỉ: Số A, khóm B, phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
  • Bị đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm 1970. Địa chỉ: Số A, khóm B, phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.

(Bà H và ông T vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:

- Về hôn nhân: Bà H và ông T chung sống vợ chồng từ năm 1999, có tổ chức đám cưới theo phong tục, đăng ký kết hôn vào ngày 25/02/1999 tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, ông T có nhiều mối quan hệ với người khác ở bên ngoài và không chăm lo cho gia đình. Bà và ông T đã sống ly thân khoảng năm năm nay. Xét thấy cuộc sống gia đình không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà H yêu cầu ly hôn với ông T.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Quang Đ, sinh ngày 01/01/2002. Do cháu Đ đã trưởng thành, tự lao động nuôi sống bản thân được nên bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề nuôi dưỡng.

- Về tài sản chung và nợ chung: Tài sản chung tự thỏa thuận, nợ chung không có, không yêu cầu giải quyết.

* Đối với bị đơn ông Trần Văn T: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, đã nhiều lần triệu tập ông T đến Tòa án để làm việc liên quan đến yêu cầu khởi kiện của bà H nhưng ông T đều vắng mặt không có lý do và cũng không cung cấp bất kỳ văn bản trình bày ý kiến nào cho Tòa án. Ông T đã được triệu tập hợp lệ tham dự phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên không có lời khai.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng:

Tòa án thụ lý giải quyết vụ án này là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình thụ lý giải quyết vụ án Tòa án đã tuân thủ trình tự tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tại phiên tòa hôm nay thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng dân sự.

Về nội dung:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Nguyễn Thị H với ông Trần Văn T. Cho bà Nguyễn Thị H ly hôn ông Trần Văn T.
  2. Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Quang Đ, sinh ngày 01/01/2002. Do cháu Đ đã trưởng thành, tự lao động nuôi sống bản thân được. Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
  3. Về tài sản chung và nợ chung: Tài sản chung tự thỏa thuận, nợ chung không có, không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.
  4. Bà H phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có lưu trong hồ sơ vụ án; quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát; sau khi thảo luận, nghị án; Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về tố tụng:

[1] Bà Nguyễn Thị H khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Trần Văn T. Ông T có nơi cư trú tại thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ việc này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

[2] Xét xử vắng mặt đương sự: Bà H có đơn xin xét xử vắng mặt, ông T đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, nên Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung:

[3] Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H và ông Trần Văn T tự nguyện chung sống như vợ chồng vào năm 1999, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật vào ngày 25/02/21999 tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu là có xảy ra trên thực tế nên quan hệ hôn nhân giữa ông bà là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.

[4] Bà H xác định: Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, ông T có nhiều mối quan hệ với người khác ở bên ngoài và không chăm lo cho gia đình.

[5] Hội đồng xét xử xét thấy: Giữa vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, gắn bó, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau và phải cùng nhau chia sẻ các công việc trong gia đình. Xét bà H và ông T đã sống ly thân từ khoảng năm năm nay mà vẫn không hàn gắn được tình cảm, không thể sống chung với nhau được. Về phía ông T, Tòa án đã nhiều lần triệu tập làm việc để xác định ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà H nhưng ông T đều vắng mặt không có lý do cho thấy ông T không có thiện chí giải quyết mâu thuẫn để xây dựng hạnh phúc gia đình. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định quan hệ hôn nhân giữa ông bà đã rơi vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Mặt khác, trong suốt quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, bà H xác định bản thân đã không còn tình cảm với ông T, không có yêu cầu đoàn tụ mà vẫn cương quyết yêu cầu ly hôn nên Hội đồng xét xử áp dụng nguyên tắc Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ và căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà H, cho bà H được ly hôn với ông T.

[6] Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Quang Đ, sinh ngày 01/01/2002. Do cháu Đ đã trưởng thành, tự lao động nuôi sống bản thân được nên bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề nuôi dưỡng. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[7] Về tài sản chung và nợ chung: Tài sản chung tự thỏa thuận, nợ chung không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[8] Về án phí: Bà H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

[9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • - Khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình
  • - Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Nguyễn Thị H với ông Trần Văn T. Cho bà Nguyễn Thị H ly hôn ông Trần Văn T.
  2. Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Quang Đ, sinh ngày 01/01/2002. Do cháu Đ đã trưởng thành, tự lao động nuôi sống bản thân được. Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
  3. Về tài sản chung và nợ chung: Tài sản chung tự thỏa thuận, nợ chung không có, không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.
  4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Bà H đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí tại biên lai thu số 0003500 ngày 05/12/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu được chuyển thu án phí 300.000 đồng.
  5. Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bạc Liêu;
  • - VKSND TP. Bạc Liêu;
  • - Chi cục THADS TP. Bạc Liêu;
  • - Các đương sự;
  • - UBND nơi đăng ký kết hôn;
  • - Lưu.

Ngô Hồng Trinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2025/HNGĐ-ST ngày 08/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 26/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị H ly hôn với Trần Văn T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger