Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĨNH LỢI

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 26/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 08-4-2025

V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LỢI, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Hồng Chi

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đào Văn Vĩnh

2. Bà Kim Thị Sà Mết

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Văn Trường, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Xuân, Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 26/2025/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 02 năm 2025 về việc ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2025/QÐST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Trương Văn N, sinh ngày 01/01/1990. Địa chỉ: Ấp T, thị trấn C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Ú, sinh năm 1985. Địa chỉ: Ấp T, thị trấn C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 16 tháng 01 năm 2025, Biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 24 tháng 02 năm 2025, nguyên đơn anh Trương Văn N, trình bày: Vào tháng 05 năm 2024, anh Trương Văn N và chị Nguyễn Thị Ú tự nguyện chung sống với nhau, có tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu và đã được Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu cấp giấy chứng nhận kết hôn số 43/2024, ngày 13 tháng 5 năm 2024.

Quá trình chung sống, anh Trương Văn N xác định anh Trương Văn N và chị Nguyễn Thị Ú không có con chung do thời gian anh Trương Văn N và chị Nguyễn Thị Ú chung sống chỉ được 06 tháng.

Về tài sản chung: Anh Trương Văn N xác định anh Trương Văn N và chị Nguyễn Thị Ú chung sống không có tạo được tài sản chung.

Về nợ chung: Trong thời gian chung sống, anh Trương Văn N xác định anh Trương Văn N và chị Nguyễn Thị Ú không vay, mượn tiền, tài sản của bất kỳ cá nhân, cơ quan, tổ chức tín dụng hoặc Ngân hàng nào nên không có nợ chung.

Trong thời gian chung sống, do tính tình không hòa hợp, quan điểm sống khác nhau, không có tiếng nói chung, sống chung không còn hạnh phúc nữa dẫn đến giữa anh Trương Văn N và chị Nguyễn Thị Ú thường xuyên xảy ra mâu thuẫn nên anh Trương Văn N và chị Nguyễn Thị Ú đã tự chấm dứt quan hệ chung sống với nhau và sống ly thân với nhau khoảng 02 tháng nay. Anh Trương Văn N đang sống tại nhà cha mẹ ruột của anh Trương Văn N tại địa chỉ: Ấp T, thị trấn C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu cho đến nay; còn chị Nguyễn Thị Ú đang sống tại địa chỉ: Ấp T, thị trấn C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu cho đến nay. Trong thời gian phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân, anh Trương Văn N và chị Nguyễn Thị Ú không có gặp gỡ trực tiếp và cũng không có liên lạc để giải quyết mâu thuẫn và hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Nay anh Trương Văn N yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Thị Ú; không yêu cầu được đoàn tụ. Khi ly hôn, do anh Trương Văn N xác định anh Trương Văn N và chị Nguyễn Thị Ú chung sống không có con chung, tài sản chung và nợ chung nên anh Trương Văn N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với ý kiến, trình bày của bị đơn chị Nguyễn Thị Ú: Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và triệu tập chị Nguyễn Thị Ú đến Tòa án, nhưng chị Nguyễn Thị Ú không thực hiện việc gửi văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của anh Trương Văn N cũng như cung cấp tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ án cho Tòa án và cũng không đến Tòa án làm việc nên không thể ghi nhận ý kiến, yêu cầu của chị Nguyễn Thị Ú đối với yêu cầu khởi kiện của anh Trương Văn N. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do anh Trương Văn N cung cấp và do Tòa án thu thập được để làm cơ sở giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký phiên tòa, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và quan điểm giải quyết vụ án như sau:

  • - Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Thư ký phiên tòa và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự; riêng bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Về nội dung: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Trương Văn N đối với chị Nguyễn Thị Ú, cho anh Trương Văn N và chị Nguyễn Thị Ú ly hôn. Về con chung, tài sản chung và nợ chung không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra giải quyết. Anh Trương Văn N phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền: Anh Trương Văn N yêu cầu ly hôn với chị Nguyễn Thị Ú và hiện nay chị Nguyễn Thị Ú cư trú tại ấp T, thị trấn C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu nên Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về tố tụng: Nguyên đơn anh Trương Văn N có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt. Bị đơn chị Nguyễn Thị Ú đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng tại phiên tòa hôm nay chị Nguyễn Thị Ú vẫn vắng mặt không rõ lý do nên căn cứ vào khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Trương Văn N và chị Nguyễn Thị Ú.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về hôn nhân: Anh Trương Văn N và chị Nguyễn Thị Ú tự nguyện chung sống với nhau vào tháng 5 năm 2024. Anh Trương Văn N và chị Nguyễn Thị Ú tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu và được Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu cấp giấy chứng nhận kết hôn số 43/2024, ngày 13 tháng 5 năm 2024 nên hôn nhân giữa anh Trương Văn N và chị Nguyễn Thị Ú là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

[2.2] Anh Trương Văn N yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Thị Ú với lý do trong thời gian chung sống, tính tình không hòa hợp, quan điểm sống khác nhau, không có tiếng nói chung, sống chung không còn hạnh phúc dẫn đến giữa anh Trương Văn N và chị Nguyễn Thị Ú thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cự cãi với nhau nên anh Trương Văn N và chị Nguyễn Thị Ú đã tự chấm dứt quan hệ chung sống với nhau và sống ly thân với nhau khoảng 02 tháng nay. Trong thời gian sống ly thân, anh Trương Văn N và chị Nguyễn Thị Ú không có gặp gỡ trực tiếp và cũng không có liên lạc để giải quyết mâu thuẫn và hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tại Biên bản xác minh ngày 26 tháng 02 năm 2025, ông Lê Văn H, là Trưởng ấp T, thị trấn C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu xác định anh Trương Văn N và chị Nguyễn Thị Ú đã sống ly thân khoảng 01 tháng nay. Xét thấy, hôn nhân giữa anh Trương Văn N và chị Nguyễn Thị Ú thực tế đã phát sinh mâu thuẫn, không thể giải quyết, cuộc sống chung giữa anh Trương Văn N và chị Nguyễn Thị Ú thực tế đã không còn và không thể duy trì. Điều này cho thấy, tình cảm vợ chồng giữa anh Trương Văn N và chị Nguyễn Thị Ú đã không còn có sự quan tâm, chăm sóc, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Trương Văn N đối với chị Nguyễn Thị Ú, cho anh Trương Văn N và chị Nguyễn Thị Ú ly hôn.

[2.3] Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Anh Trương Văn N xác định anh Trương Văn N và chị Nguyễn Thị Ú chung sống không có con chung, tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị Nguyễn Thị Ú không thể hiện ý kiến có tranh chấp và yêu cầu giải quyết về vấn đề con chung, tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[2.4] Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch, anh Trương Văn N phải nộp 300.000 đồng. Anh Trương Văn N đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004585 ngày 04 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu nên được chuyển thu án phí.

[3] Các quan điểm đề xuất việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu tại phiên tòa, như đã phân tích, là có căn cứ nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 57 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội và điểm 1.1 phần II mục A của Danh mục án phí, lệ phí Tòa án (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016):

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Trương Văn N đối với chị Nguyễn Thị Ú, cho anh Trương Văn N và chị Nguyễn Thị Ú ly hôn.
  2. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có và không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết.
  3. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và Gia đình, anh Trương Văn N phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Anh Trương Văn N đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004585 ngày 04 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu nên được chuyển thu án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và Gia đình 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu.

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn kháng cáo 15 (mười lăm) ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bạc Liêu;
  • - VKSND huyện Vĩnh Lợi;
  • - Chi Cục THADS huyện Vĩnh Lợi;
  • - UBND TT Châu Hưng, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Dương Hồng Chi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2025/HNGĐ-ST ngày 08/04/2025 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu về ly hôn

  • Số bản án: 26/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh Trương Văn N yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Thị Ú
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger