Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ KONTUM

TỈNH KONTUM

Bản án số: 26/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 03/6/2025;

V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

———————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KONTUM, TỈNH KONTUM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Phương Loan

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Phúc và bà Nguyễn Thị Sương;

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Thị Thúy An – Thư ký Toà án nhân dân thành phố KonTum, tỉnh KonTum .

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố thành phố Kon Tum tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hằng – Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 03/2025/TLST-HNGĐ ngày 06/01/2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2025/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trương Thị Ngọc V, sinh năm 1979.

Địa chỉ: 205/8/6 H, phường Q, thành phố K, tỉnh Kon Tum (Có mặt).

- Bị đơn: Ông Trần Trọng K, sinh năm 1973.

Địa chỉ: Tổ D, phường N, thành phố K, tỉnh Kon Tum (Vắng mặt, có ý kiến bằng văn bản xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai tại phiên tòa, nguyên đơn – bà Trương Thị Ngọc V trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Trần Trọng K đăng ký kết hôn năm 2010 tại UBND phường N, thành phố K. Vợ chồng chung sống chỉ hạnh phúc được thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là cách đây 08 năm, ông K bị tai nạn dẫn đến bị liệt tứ chi, không có khả năng lao động tạo ra thu nhập, một mình bà phải gánh vác kinh tế gia đình nhưng ông K không thông cảm cho bà mà còn hay mắng chửi, bạo lực ngôn từ thậm tệ. Vợ chồng đã sống ly thân từ đầu tháng 5 năm 2024 đến nay. Bà V đã chuyển đi sống nơi khác cùng các con. Trong thời gian đó, chồng không quan tâm, hỏi han đến vợ con. Đến nay, tình cảm vợ chồng không còn nên bà xin được ly hôn ông K.

Về con chung: Bà và ông K có 03 người con chung là cháu Trần Hồng Xuân Á, sinh năm 2006, cháu Trần Xuân T – sinh ngày 27/8/2012 và cháu Trần Long P - sinh ngày 29/9/2016. Cháu Á đã đủ 18 tuổi và tự lập nên bà V xin được nuôi 02 con nhỏ là cháu T và cháu P, không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung, bà V không yêu cầu Toà án giải quyết.

Bị đơn – ông Trần Trọng K không tham gia phiên tòa nhưng đã có ý kiến bằng văn bản như sau:

Ông và bà Trương Thị Ngọc V là vợ chồng hợp pháp. Từ tháng 02/2024, ba V đã dọn đồ ra khởi nhà và từ tháng 06/2024 thì bà V đã đi khỏi nhà hẳn. Về việc ly hôn, bà V muốn là gì thì làm, ông không có khả năng níu giữ. Ông bị đau nên không đến Tòa án làm việc được. Ông không còn tình cảm vợ chồng, không đi làm nên không có thu nhập lo cho con được; ông đề nghị Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt ông.

Ông K không có yêu cầu phản tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

Về tố tụng:

1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán về xác định quan hệ trông chấp, thẩm quyền thụ lý, xác định tư cách người tham gia tố tụng, V thập chứng cứ, thời hạn chuẩn bị xét xử và các thủ tục tố tụng khác đã được thực hiện đúng quy định của Bộ luậ tố tụng dân sự hiện hành.

2. Việc tuân theo pháp luật của hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa.

- Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc giải quyết vụ án dân sự theo quy định tại Chương IV (phiên tòa sơ thẩm) và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan từ lúc bắt đầu phiên tòa đến trước thời điểm nghị án.

3. Việc chấp hành pháp luật cua người tham gia tố tụng.

Nguyên đơn thực hiện tốt, bị đơn chưa thực hiện tốt quyền, nghĩa vụ của đương sự theo quy định của pháp luật.

Về việc giải quyết nội dung vụ án: chấp nhận đơn khởi kiện của bà V. Vì hôn nhân đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, bà V được ly hôn với ông K; Về con chung: có 03 con chung, cháu Á đã đủ trưởng thành và tự lập được, giao 02 con chung cho bà V trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, ông K không phải cấp dưỡng. Ông K được quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở và không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung; Về tài sản chung, nợ chung: các đương sự không yêu cầu giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà V phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Xét quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: BàTrương Thị Ngọc Vy yêu cầu ly hôn ông Trần Trọng K; hai ông bà đều cư trú tại thành phố K. Do đó, Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại các Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015

[2]Về nội dung: Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn vắng mặt, các đương sự không tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án, do đó, Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Xét yêu cầu xin ly hôn của bà Trương Thị Ngọc V, Hội đồng xét xử xét thấy: Bà V và ông K kết hôn trên cơ sở tình yêu tự nguyện, có đăng ký kết hôn, được UBND phường N, thành phố K cấp Giấy đăng ký kết hôn số 42 ngày 25/12/2009. Tại thời điểm kết hôn, bà V và ông K đã đủ tuổi và có đủ các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình 2000. Do đó, hôn nhân giữa bà V và ông K là hợp pháp.

[3] Xét nguyên nhân và tính chất, mức độ mâu thuẫn vợ chồng, Hội đồng xét xử xét thấy:

Đời sống hôn nhân trong lời trình bày của bà V là mâu thuẫn thường xuyên do cách sống không hòa hợp nhau, bà bị chồng bạo lực ngôn từ và thể xác, không chia sẻ được trách nhiệm kinh tế của gia đình. Qua lời trình bày của ông K thì bà V không muốn sống chung và không chăm sóc khi ông đau ốm. Như vậy, hai bên đều không thực hiện đúng nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau giữa vợ và chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Bên cạnh đó, hai bên đều công nhận đã sống ly thân từ khoảng tháng 05, thán 6/2024 đến nay là đã vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng quy định tại khoản 2 Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ nhận định đời sống chung giữa bà V và ông K không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà V để cho ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

[4] Về con chung, xét thấy:

Trong 03 người con chung của ông K và bà V thì cháu Á đã đủ 18 tuổi và tự lập nên không cần cha, mẹ nuôi dưỡng. 02 cháu còn lại còn nhỏ nên bà V có nguyện vọng nuôi 02 cháu. Xét thấy, ông K không đảm bảo sức khỏe để đi làm, không có thu nhập nên không lo được việc nuôi con; 02 cháu Trần Xuân T và Trần Long P đều có nguyện vọng được sống chung với mẹ. Bà V có công việc và thu nhập ổn định nên có khả năng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con tốt hơn điều kiện của ông K. Do đó, cần giao 02 cháu Trần Xuân T và Trần Long P cho bà V trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục theo nguyện vọng của bà V và 02 cháu là phù hợp với quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Ông K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định tại khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Bà V không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng không xem xét, giải quyết.

[5] Về tài sản chung và nợ chung, các bên không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bà V là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Áp dụng Điều 9, Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, khoản 1 và khoản 2 Điều 81 và khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;

Chấp nhận đơn khởi kiện đề ngày 11/12/2024 của nguyên đơn – bà Trương Thị Ngọc V. Tuyên xử:

1.Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Trương Thị Ngọc V ly hôn ông Trần Trọng K.

2.Về con chung:

Giao 02 cháu Trần Xuân T (sinh ngày 27/8/2012) và Trần Long P (sinh ngày 29/9/2016) cho bà V trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Thời điểm nuôi con từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi các con đủ 18 tuổi và có khả năng tự lập.

Ông K có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi. Ông K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Ông K không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 144, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; áp dụng Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức V, miễn, giảm, V, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bà Trương Thị Ngọc V phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000328 ngày 06/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Kon Tum. Bà V đã nộp đủ án phí.

4. Căn cứ các Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2014;

Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án, các đương sự có quyền kháng cáo bản án để xin xét xử lại theo trình tự phúc thẩm. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kon Tum;
  • - VKSND TP Kon Tum;
  • - THADS TP Kon Tum;
  • - UBND p. Nguyễn Trãi, TP Kon Tum;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA./.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Lê Thị Phương Loan

THÀNH VIÊN HĐ XÉT XỬ

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2025/HNGĐ-ST ngày 03/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KONTUM, TỈNH KONTUM về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 26/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KONTUM, TỈNH KONTUM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger