|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 26/2025/HC-ST Ngày: 18-3-2025 V/v: khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: ông Trần Văn Quán
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Thanh Tây
- Bà Nguyễn Thị Thủy
- Thư ký phiên tòa: bà Vũ Thị Thu Hường – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: bà Lê Thị Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 299/2024/TLST-HC ngày 20 tháng 11 năm 2024 về “Khiếu kiện quyết định hành chính” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2025/QĐXXST-HC ngày 03 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: ông Đặng Văn H, sinh năm 1964; Địa chỉ: tổ 1, ấp Tân Quí, xã Tân Tập, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An
- Người bị kiện: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L (Nay là Sở N)
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: ông Lê Văn M, sinh năm 1982; Địa chỉ: ấp V, xã T, huyện C, tỉnh Long An
Người đại diện theo ủy quyền: ông Phan Văn C, chức vụ: Phó Giám đốc.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện: bà Nguyễn Thị Anh T – Phó Trưởng phòng, Phòng Hành chính tổng hợp Văn phòng đăng ký đất đai.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo Đơn khởi kiện ghi ngày 21/10/2024, ông Đặng Văn H trình bày như sau:
Ông Đặng Văn H sử dụng đất ổn định, lâu dài và được cấp giấy chứng nhận quyền dụng đất từ ngày 06/09/2006 đối với thửa đất số 1770 tờ bản đồ số 07, diện tích 1.535m², mục đích sử dụng đất trồng lúa (LUA), tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Long An. Đất có nguồn gốc nhận thừa kế từ bà Bùi Thị H1 – mẹ ruột ông Đặng Văn H.
Năm 2023, ông Đặng Văn H có ý định tặng cho đất các con của ông H. Khi triển khai đo đạc phát hiện một phần đất thuộc thửa đất số 1770 tờ bản đồ số 07, với diện tích 1.535m² ông Lê Văn M đứng tên.
Ngày 09/01/2024, ông Đặng Văn H có làm đơn phản ánh gửi UBND huyện C để thu hồi cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất nền trên. UBND huyện có văn bản trả của lời số 1140/UBND-NC rằng trường hợp của ông H thuộc thẩm quyền giải quyết Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
Gia đình ông Đặng Văn H có gặp và thỏa thuận với ông Lê Văn M để giải quyết vấn đề nêu trên, nhưng ông Lê Văn M không đồng ý.
Quyết định hành chính bị kiện giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 3073 tờ bản đồ số 7 vào cấp ngày 30 tháng 06 năm 2020 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp sai diện tích cho ông Lê Văn M.
Người khởi kiện ông Đặng Văn H yêu cầu: Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp cho ông Lê Văn M số CV 745108, vào sổ cấp số CS 08001 ngày 30/6/2020 đối với thửa đất số 3073, tờ bản đồ số 7, diện tích 1.535m², đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
Người khởi kiện cam đoan không đồng thời khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại.
Người bị kiện Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L trình bày tại Văn bản số 9258/TNMT0VPĐKĐĐ ngày 13/12/2024 như sau:
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L tiếp nhận Thông báo thụ lý vụ HS. án số 299/224/TLST-HC ngày 20/11/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An về việc "Khiếu kiện quyết định hành chính” giữa người khởi kiện là ông Đặng Văn H, người bị kiện là Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L.
Nội dung yêu cầu khởi kiện: Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp cho ông Lê Văn M số CV 745108 ngày 30/6/2020 đối với thửa 3073, tờ bản đồ số 7, diện tích 1.535 m² đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
Sở T có ý kiến như sau:
3
Ngày 19/5/1997, ông (bà) Bùi Thị H1 được UBND huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 0330/QSDĐ/0513-LA gồm 08 thửa, trong đó có thửa 1770, tờ bản đồ số 7, diện tích 4438m², loại đất lúa, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
Bà Bùi Thị H1 chết theo Giấy chứng tử số 33, quyển số 01 do UBND xã T cấp ngày 12/7/2004
Ngày 19/5/2006, ông Đặng Văn H2 nhận thừa kế một phần thửa 1770 Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế được Phòng C2 (nay là Phòng C3), tỉnh Long An công chứng số 606, quyển số 02TP/CC-SCC/TK. Ông Đặng Văn H2 nộp hồ sơ đăng ký biến động và được UBND huyện C ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành AE 846224 (số vào sổ H01588/CN QSDĐ), thửa đất số 3073 (tách từ thửa 1770), tờ bản đồ số 7, diện tích 2033m², loại đất lúa cho ông Đặng Văn H2 theo trích đo bản đồ địa chính được Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện C duyệt ngày 14/6/2006.
Ngày 31/5/2008, ông Đặng Văn H2 chuyển nhượng một phần thửa 3073 (số thửa mới 3596), diện tích 300m² cho ông Lê Công C1 và một phần thửa 3073 (số thửa mới 2595), diện tích 198m² cho bà Lê Thị X, theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được UBND xã T chứng thực số 1294, 1295, quyển số 07/08TP/CC-SCT/HĐGD và được cấp mới Giấy chứng nhận (không có giấy chứng nhận kèm theo).
Ngày 06/9/2011, ông Đặng Văn H2 chuyển nhượng phần còn lại của thửa đất số 3073, diện tích 1535 m² cho bà Dương Thị Kim T1 theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Phòng C2 (nay là Phòng C3) công chứng số 011698, quyển số 12TP/CCSCC/HĐGD. Bà Dương Thị Kim T1 nộp hồ sơ đăng ký biến động và được UBND huyện C ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG 192350 (số vào sổ CH 01153) ngày 28/9/2011.
Ngày 17/4/2020, bà Dương Thị Kim T1 cùng chồng là ông Võ Minh H3 chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên cho ông Lê Văn M theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Văn phòng Công chúng Nguyễn Thị Bích T2 công chứng số 9567, quyển số 10TP/CC-CSS/HĐGD. Hồ sơ do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai tại huyện C thụ lý, xét thấy hồ sơ đầy đủ, hợp lệ, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai tại huyện C chuyển hồ sơ cho Văn phòng Đăng ký đất đai trình Sở T ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CV 745108 (số vào sổ CS 08001) ngày 30/6/2020 đối với thửa 3073, tờ bản đồ số 7, diện tích 1535 m² cho ông Lê Văn M là đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục theo quy định.
4
Đối với yêu cầu của người khởi kiện, Sở T đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Long An xem xét, giải quyết theo quy định.
Ngày 20 tháng 11 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Long An thụ lý vụ án.
Tòa án tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai chứng cứ; lập biên bản đối thoại không được và đưa vụ án ra xét xử theo quy định.
Tại phiên toà:
Ông Đặng Văn H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp cho ông Lê Văn M ngày 30/6/2020 đối với thửa đất số 3073, tờ bản đồ số 7, diện tích 1.535m², đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Long An. Căn cứ để đưa ra yêu cầu là việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Văn M có một phần diện tích đất ao gia đình ông quản lý sử dụng nuôi tôm từ trước khi cho ông Đặng Văn H2. Phía ông H2, bà Kim T1 cũng như ông M chưa từng sử dụng đất này và cũng không tranh chấp với ông. Ngoài ra không yêu cầu gì khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn M cũng thống nhất trình bày của ông H. Từ khi nhận chuyển nhượng ông không sử dụng đất phần cái ao.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phát biểu: giữ nguyên ý kiến của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L tại Công văn số 9258/TNMT-VPĐKĐĐ ngày 13/12/2024. Việc sở Tài nguyên cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cơ sở hợp đồng chuyển nhượng có công chứng chứng thực theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được Ủy ban nhân dân huyện cấp trước đó. Nay cho rằng có nhầm lẫn diện tích đề nghị người khởi kiện rút đơn kiện để Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai chỉnh lý.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu:
Về trình tự thủ tục đảm bảo theo quy định của luật tố tụng. Phía người bị kiện xin vắng nên không đối thoại được. Việc thu thập chứng cứ, công khai chứng cứ đảm bảo. Tại phiên tòa Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ và quyền hạn. Các bên đương sự thực hiện đúng tố tụng về quyền và nghĩa vụ theo quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015.
Về thời hiệu, ngày 09/01/2024, ông Đặng Văn H có đơn phản ánh gửi UBND huyện C về việc cấp nhầm diện tích. Sau khi UBND huyện C có văn bản trả của lời số 1140/UBND-NC. Ngày 21/10/2024 ông Đặng Văn H khởi kiện. Theo điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 Tòa án xác định vẫn trong thời hiệu.
Về nội dung, ông H được bà Bùi Thị H1 cho sử dụng thửa 1770, tờ bản đồ
5
số 7, loại đất lúa, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
Ngày 19/5/2006, ông Đặng Văn H2 nhận thừa kế một phần thửa 1770 và được UBND huyện C ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 3073 (tách từ thửa 1770), tờ bản đố số 7, diện tích 2033 m², loại đất lúa.
Sau khi chuyển nhượng một phần thửa 3073 cho ông Lê Công C1 và cho bà Lê Thị X, ông Đặng Văn H2 chuyển nhượng phần còn lại cho bà Dương Thị Kim T1. Bà Dương Thị Kim T1 được UBND huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Ngày 17/4/2020, bà Dương Thị Kim T1 và ông Võ Minh H3 chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên cho ông Lê Văn M.
Theo Biên bản thẩm định và M1 trích đo, ông H sử dụng đất phần ổn định, không tranh chấp là cấp nhưng ông M được cấp giấy chưng nhận quyền sử dụng đất.
Như vậy, mặc dù việc Sở T ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Văn M đối với phần còn lại của thửa 3073, tờ bản đồ số 7, diện tích 1535m² là đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục trên cơ sở Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được công chúng chứng thực, nhưng không thẩm định đo đạc thực tế. Từ đó cấp không đúng diện tích và đối tượng. Do đó đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp cho ông Lê Văn M số CV 745108, vào sổ cấp số CS 08001 ngày 30/6/2020 đối với thửa đất số 3073, tờ bản đồ số 7, diện tích 1.535m², đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Long An. Buộc cơ quan quản lý đất đai có thẩm quyền thực hiện nhiệm vụ công vụ theo quy định. Buộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L chịu án phí theo quy định.
(Có bài phát biểu kèm theo)
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về đối tượng khởi kiện, phạm vi giải quyết, thẩm quyền xét xử.
Người khởi kiện ông Đặng Văn H yêu cầu: Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp cho ông Lê Văn M là yêu cầu hủy quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai.
Ông Lê Văn M không tranh chấp dân sự nên Tòa án giải quyết theo yêu cầu của người khởi kiện.
Căn cứ quy định tại Điều 3, Điều 8, Điều 30 và khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 Tòa án nhân dân tỉnh Long An giải quyết theo thủ tục sơ thẩm.
6
[2] Về thời hiệu:
Năm 2023, ông Đặng Văn H phát hiện một phần đất thuộc thửa đất số 1770 tờ bản đồ số 07, với diện tích 1.535m² ông Lê Văn M đứng tên.
Ngày 09/01/2024, ông Đặng Văn H có làm đơn phản ánh gửi UBND huyện C. UBND huyện C có văn bản trả lời số 1140/UBND-NC rằng trường hợp của ông H thuộc thẩm quyền giải quyết Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
Ngày 21/10/2024 ông Đặng Văn H khởi kiện.
Theo điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 Tòa án xác định vẫn trong thời hiệu.
[3] Về tư cách tố tụng và việc ủy quyền:
Ông Đặng Văn H khởi kiện Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Lê Văn M nên xác định ông Đặng Văn H là người khởi kiện; Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L (nay là Sở N) là người bị kiện; ông Lê Văn M là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Người bị kiện ủy quyền đúng theo khoản 3 Điều 60 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 là hợp lệ được chấp nhận.
[4] Việc công khai chứng cứ, đối thoại và xét xử vắng mặt đương sự.
Tòa án tiến hành công khai chứng cứ; lập biên bản đối thoại theo quy định tại các Điều 135, Điều 137, Điều 138 và Điều 139 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 và đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.
Người đại diện cho người bị kiện có văn bản xin vắng mặt nên Tòa án căn cứ khoản 1 Điều 157 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt người bị kiện.
[5] Về yêu cầu khởi kiện
Ông Đặng Văn H khởi kiện yêu cầu: Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp cho ông Lê Văn M số CV 745108, vào sổ cấp số CS 08001 ngày 30/6/2020 đối với thửa đất số 3073, tờ bản đồ số 7, diện tích 1.535m², đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Long An là yêu cầu hủy quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai.
[6] Xét thấy:
Nguồn gốc thửa 1770, tờ bản đồ số 7, diện tích 4438 m², loại đất lúa, xã T, huyện C, tỉnh Long An, bà Bùi Thị H1 được UBND huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 19/5/1997.
Sau khi bà Bùi Thị H1 chết, ngày 19/5/2006, ông Đặng Văn H2 nhận thừa kế một phần thửa 1770 theo Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế. Ông Đặng Văn H2 được UBND huyện C ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
7
số phát hành AE 846224 (số vào sổ H01588/CN QSDĐ), thửa đất số 3073, tách từ thửa 1770, tờ bản đồ số 7, diện tích 2033m² loại đất lúa.
Ngày 31/5/2008, ông Đặng Văn H2 chuyển nhượng một phần thửa 3073, diện tích 300 m² cho ông Lê Công C1 và một phần thửa 3073, diện tích 198 m² cho bà Lê Thị X.
Ngày 06/9/2011, ông Đặng Văn H2 chuyển nhượng phần còn lại của thửa đất số 3073, diện tích 1535 m² cho bà Dương Thị Kim T1. Bà Dương Thị Kim T1 nộp hồ sơ đăng ký biến động và được UBND huyện C ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG 192350, số vào sổ CH 01153 ngày 28/9/2011.
Ngày 17/4/2020, bà Dương Thị Kim T1 và chồng là ông Võ Minh H3 chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên cho ông Lê Văn M theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Văn phòng C4 công chứng chứng thực.
Ngày 30/6/2020 Sở T ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CV 745108 (số vào sổ CS 08001) đối với thửa 3073, tờ bản đồ số 7, diện tích 1535 m² cho ông Lê Văn M.
[7] Căn cứ Biên bản thẩm định tại chỗ ngày 17/12/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An diện tích đất ông Đặng Văn H cho rằng ông sử dụng nhưng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Văn M hiện là ao nuôi tôm. Xung quanh ao trồng chuối, có ranh giới với đất ông M sử dụng là bờ đan xi-măng. Ông Lê Văn M cũng thống nhất ao do ông H sử dụng từ trước đến nay và không tranh chấp.
[8] Căn cứ Mảnh Trích đo địa chính số 12-2024 ngày của Công ty TNHH Đ diện tích đất ao vị trí A thuộc một phần thửa 3073, tờ bản đồ số 7 tiếp giáp thửa 1770, TBĐ 7 do ông M đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và ông H quản lý sử dụng.
[9] Từ đó, cho thấy một phần thửa 3073 trước đây thuộc thửa 1770, thời điểm ông Đặng Văn H2 nhận thừa kế và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành AE 846224 là thửa đất số 3073 tờ bản đố số 7, diện tích 2.033 m² loại đất lúa, nhưng diện tích đất ao vẫn thuộc thửa 1770, ông Đặng Văn H quản lý sử dụng từ trước. Trên cơ sở diện tích đất còn lại của thửa đất số 3073, diện tích 1.535 m², ngày 06/9/2011, ông Đặng Văn H2 chuyển nhượng cho bà Dương Thị Kim T1 trên thực tế không có phần cái ao này. Cho nên khi bà Kim T1 cùng chồng là ông Võ Minh H3 chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Lê Văn M thì một phần thửa 3073 (phần cái ao) ông M không nhận đất trên thực tế sau khi nhận chuyển nhượng. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L
8
ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Văn M trên cơ sở giấy bà T1 được cấp và thông qua hợp đồng chuyển nhượng là theo thủ tục nhưng thiếu kiểm tra đo đạc diện tích và đối tượng sử dụng nên dẫn đến sai sót.
[10] Như vậy, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng đối tượng và diện tích theo điểm d khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai năm 2013 cơ quan quản lý đất đai không thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp là có căn cứ. Phía người khởi kiện không rút đơn kiện vẫn yêu cầu xét xử do đó Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính năm 2015:
[10.1] Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 745108 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp cho ông Lê Văn M ngày 30/6/2020 đối với thửa đất số 3073, tờ bản đồ số 7, diện tích 1.535m², đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
[10.2] Buộc cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai có thẩm quyền thực hiện nhiệm vụ công vụ theo quy định của pháp luật đối với người sử dụng đất. Ông Lê Văn M, ông Đặng Văn H được thực hiện quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
[10.3] Trường hợp các đương sự trong giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất có tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng sẽ giải quyết theo tố tụng dân sự.
[11] Đối với các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Đặng Văn H2, bà Dương Thị Kim T1 đã thu hồi khi chuyển nhượng không còn nên Tòa không áp dụng khoản 1 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 hủy bỏ.
[12] Phát biểu của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An là có cơ sở được chấp nhận.
[13] Về chi phí thẩm định tại chỗ và đo đạc: 16.600.000đ. Áp dụng khoản 1 Điều 358, Điều 359 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, buộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L chịu 3.000.000đ; ông Lê Văn M chịu 4.000.000đ. Do ông Đặng Văn H đã tạm ứng trước nên Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L và ông Lê Văn M phải hoàn trả cho ông H số tiền nêu trên; ông Đặng Văn H chịu 9.600.000đ.
[14] Về án phí hành chính sơ thẩm: Đặng Văn H thuộc diện miễn án phí theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
9
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 3, Điều 8, Điều 30 và khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính 2015;
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 193, khoản 1 Điều 157, điểm a khoản 2 Điều 116, Điều 348, khoản 1 Điều 358 và Điều 359 Luật Tố tụng hành chính năm 2015;
Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đặng Văn H đối với Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L về việc “Hủy quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”.
- - Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp cho ông Lê Văn M số CV 745108, vào sổ cấp số CS 08001 ngày 30/6/2020 đối với thửa đất số 3073, tờ bản đồ số 7, diện tích 1.535m², đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Long An là yêu cầu hủy quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai.
- - Buộc cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai có thẩm quyền thực hiện nhiệm vụ công vụ theo quy định của pháp luật đối với người sử dụng đất.
- - Ông Lê Văn M, ông Đặng Văn H được thực hiện quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
- Về chi phí tố tụng: đo đạc, thẩm định 16.600.000₫
Buộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L chịu và nộp 3.000.000đ, ông Lê Văn M chịu 4.000.000đ. Do ông Đặng Văn H đã nộp tạm ứng nên buộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L hoàn trả cho ông Đặng Văn H 3.000.000₫ và ông Lê Văn M phải hoàn trả cho ông Đặng Văn H 4.000.000đ.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án đối với số tiền chưa trả thì người phải thi hành án còn phải trả thêm tiền lãi tương ứng với thời gian chậm thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Ông Đặng Văn H chịu 9.600.000đ (đã nộp xong)
- Về án phí hành chính sơ thẩm:
Ông Đặng Văn H không phải chịu án phí, thuộc diện miễn không nộp tiền tạm ứng án phí nên không hoàn trả.
Buộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L phải chịu và nộp 300.000đ.
10
3. Án xét xử công khai sơ thẩm, báo cho đương sự có mặt biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Trần Văn Quán |
Bản án số 26/2025/HC-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Số bản án: 26/2025/HC-ST
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/03/2025
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng Văn H - UBND huyện C
