TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
| CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
Bản án số: 26/2025/DS-ST Ngày: 25-3-2025 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị T.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn H;
2. Ông Đặng Song H.
Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Ngô M – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Lương Ngọc T – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 740/2024/TLST-DS ngày 09 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2024/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 01 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2024/QĐ-ST ngày 13 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần K;
Địa chỉ trụ sở: 40-42-44 P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiêm Giang.
Người đại diện theo Pháp luật: Ông Trần Ngọc Minh Chức V: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đinh Việt Q Chức vụ: Giám đốc phòng xử lý nợ.
Người được ủy quyền lại: Bà Nguyễn Thị T và bà Nguyễn Minh Thu M – Chuyên viên xử lý nợ T1 và Tài chính vi mô – Phòng xử lý nợ - Ngân hàng Thương mại cổ phần K. (Theo giấy ủy quyền số 2338/QĐ-NHKL lập ngày 26/8/2024)
(bà T, bà M có đơn xin xét xử vắng mặt)
2. Bị đơn: Ông Lê Vũ P, sinh năm 1988; (vắng mặt).
Địa chỉ: A B, Phường H, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:
Ngân hàng Thương mại cổ phần K – chi nhánh B (gọi tắt là Ngân hàng K) cho ông Lê Vũ P vay tiền theo Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1 số 0056/16/TC/2400-447560 ngày 22/11/2016, cụ thể như sau:
- Loại thẻ: Visa
- Hạn mức: 20.000.000 đồng.
- Mục đích vay: Tiêu dùng.
- Thời hạn vay: 36 tháng.
- Lãi suất cho vay: 28%/năm.
- Lãi suất chậm trả: 3.5%/ số tiền chậm trả
- Phí vượt hạn mức: 0.075%/ngày
- Kỳ hạn trả lãi vay: hàng tháng. Các ngày trả lãi vay là ngày 10 hàng tháng.
Tiền lãi vay được tính bằng (=) Dư nợ vay thực tế nhân (x) lãi suất vay (%/năm) nhân (x) lãi suất vay (%/năm) số ngày vay thực tế chia (:) 365. Trong đó, nếu số ngày vay thực tế chưa đủ 01 ngày thì được tính đủ 01 ngày.
Kỳ hạn trả nợ gốc: Thanh toán tối thiểu so với dư nợ trong kỳ là 5%. Tỷ lệ này do K1 quy định và có thể thay đổi trong từng thời kỳ.
Số tiền thanh toán tối thiểu mỗi kỳ = 5% (Dư nợ cuối kỳ - số tiền vượt mức trong kỳ - số tiền trả góp trong kỳ) + số tiền vượt hạn mức trong kỳ + số tiền trả góp trong kỳ.
Dư nợ cuối kỳ = Dư nợ đầu kỳ - các khoản đã thanh toán trong kỳ + Các khoản chi tiêu trong kỳ + Phí + Lãi.
Khoản vay hạn mức thẻ tín dụng không có tài sản bảo đảm.
Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông Lê Vũ P đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền gốc là 19.420.000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông P đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền 19.420.000 đồng, gồm nợ gốc 8.660.861 đồng, lãi trong hạn 8.299.139 đồng, tổng phí: 2.460.000 đồng. Từ ngày 11/12/2022 ông P đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, không thanh toán trả nợ cho Ngân hàng theo thỏa thuận tại bản chấp thuận về điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quốc tế. Do vậy, từ ngày 12/12/2022 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn.
3
Tính đến ngày 25/3/2025, tổng số tiền ông P còn nợ Ngân hàng là 112.181.149 đồng, bao gồm: Nợ gốc còn lại là 11.339.139 đồng, lãi suất trong hạn là 20.624.653 đồng, tiền lãi suất chậm trả và phí là 80.217.357 đồng.
Ngân hàng K yêu cầu ông P trả cho Ngân hàng tổng số tiền 112.181.149 đồng bao gồm các khoản tiền như đã nêu trên.
Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, cố gắng liên lạc yêu cầu ông P có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để trả nợ nhưng ông P vẫn không thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã quy định tại Hợp đồng đã ký.
Do đó, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng, Ngân hàng TMCP K khởi kiện yêu cầu ông P thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm (25/3/2025) là 112.181.149 đồng, bao gồm: Nợ gốc còn lại là 11.339.139 đồng, lãi suất trong hạn là 20.624.653 đồng, tiền lãi suất chậm trả và phí là 80.217.357 đồng.
Bị đơn ông Lê Vũ P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để làm việc, tham gia phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tham gia phiên hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu phát biểu tại phiên tòa:
Về tố tụng: Tòa án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền. Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định pháp luật về tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn tuân thủ đúng quy định pháp luật về tố tụng dân sự. Bị đơn không tuân thủ đúng quy định pháp luật về tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng Thương mại cổ phần K có đơn khởi kiện yêu cầu ông Lê Vũ P trả nợ theo hợp đồng đã giao kết. Xét đây là tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn ông P có nơi cư trú tại thành phố V nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu theo quy định tại điểm a, Khoản 1, Điều 35 và điểm a, Khoản 1, Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
4
[1.2]. Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T và bà Nguyễn Minh Thu M có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, ông P được Tòa án tống đạt hợp lệ lần thứ hai các văn bản tố tụng của Tòa án để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt Ngân hàng TMCP K và ông P.
[2]. Về nội dung: Xét yêu cầu trả tiền gốc, lãi của nguyên đơn đối với bị đơn theo Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1 số 0056/16/TC/2400-447560 ngày 22/11/2016 thấy rằng:
Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1 số 0056/16/TC/2400-447560 ngày 22/11/2016 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần K chi nhánh B với ông Lê Vũ P được các bên ký kết trên cơ sở tự nguyện, hình thức và nội dung hợp đồng không trái quy định của pháp luật. Do đó, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng đã ký kết.
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, Ngân hàng yêu cầu ông P phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng số tiền còn nợ theo Giấy đăng ký phát hành kiêm Hợp đồng tín dụng ngày 22-11-2016 tính đến hết ngày 25-3-2025 là 112.181.149 đồng.
Xét bảng hoạt động tài khoản thẻ của ông P, đơn khởi kiện và bản tự khai của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, phiếu tính lãi chi tiết đến hết ngày 25-3-2025 thì từ ngày 11-12-2022 đến nay, ông P không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng theo hợp đồng tín dụng ngày 22-11-2016 đã ký kết.
Mặc dù, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn ông P nhưng căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, có căn cứ xác định Ngân hàng với ông P có ký Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp sử dụng thẻ ngày 22-11-2016 và ông P còn nợ Ngân hàng tiền gốc và lãi tính đến hết ngày 25-3-2025 như ý kiến, yêu cầu của Ngân hàng. Căn cứ hợp đồng tín dụng ngày 22-11-2016 kèm Điều khoản và điều kiện dành cho khách hàng vay tiêu dùng cá nhân, mở tài khoản, phát hành thẻ ghi nợ; Quyết định về Lãi suất cho vay áp dụng cho khách hàng cá nhân của Ngân hàng; Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự; Điều 91, Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 thì yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng là phù hợp với quy định pháp luật. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng buộc ông P thanh toán cho Ngân hàng số tiền 112.181.149 đồng, bao gồm: Nợ gốc còn lại là 11.339.139 đồng, lãi suất trong hạn là 20.624.653 đồng, tiền lãi suất chậm trả và phí là 80.217.357 đồng và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng ngày 22-11-2016 kể từ sau ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
[3]. Án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Lê Vũ P có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng nên phải chịu án phí sơ thẩm.
5
Ngân hàng TMCP K không phải chịu án phí, hoàn trả cho Ngân hàng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 30; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 1 Điều 147; điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228, Điều 266, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Các Điều 463, 466 của Bộ Luật dân sự;
- - Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
- - Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần K.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc ông Lê Vũ P có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K tính đến hết ngày xét xử sơ thẩm (25-3-2025) số tiền 112.181.149₫ (Một trăm mười hai triệu một trăm tám mươi mốt ngàn một trăm bốn mươi chín đồng), trong đó tiền nợ gốc là 11.339.139đ (Mười một triệu ba trăm ba mươi chín ngàn một trăm ba mươi chín đồng), tiền lãi trong hạn là 20.624.653₫ (Hai mươi triệu sáu trăm hai mươi tư ngàn sáu trăm năm mươi ba đồng) và tiền lãi suất chậm trả và phí là 80.217.357đ (T2 mươi triệu hai trăm mười bảy ngàn ba trăm năm mươi bảy đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ông Lê Vũ P còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1 số 0056/16/TC/2400-447560 ngày 22/11/2016 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1 số 0056/16/TC/2400-447560 ngày 22/11/2016, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay.
Ông Lê Vũ P phải chịu án phí sơ thẩm với số tiền là: 5.609.057đ (Năm triệu sáu trăm không chín ngàn không trăm năm mươi bảy đồng).
Ngân hàng Thương mại cổ phần K không phải chịu án phí sơ thẩm; hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần K số tiền 2.400.000₫ (Hai triệu bốn trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí Ngân hàng Thương mại cổ phần K đã nộp
6
theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004363 ngày 07-10-2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
3. Nếu không đồng ý với Bản án này, các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử theo trình tự phúc thẩm. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị T |
Bản án số 26/2025/DS-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 26/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Buộc ông Lê Vũ P có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K tính đến hết ngày xét xử sơ thẩm (25-3-2025) số tiền 112.181.149đ.
