|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 26/2025/DS-ST Ngày: 16 - 6 - 2025
“V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hiền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Đức Nhân
Bà Phạm Thị Hiền
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Mạnh Tiến - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 320/2024/TLST-DS ngày 28 tháng 10 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2025/QĐXXST-DS ngày 18/4/2025, Quyết định hoãn phiên toà số 89/2025/QĐST-DS ngày 16/5/2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q1; địa chỉ: số A L, phường T, quận C, thành phố Hà Nội; đại diện theo pháp luật: Ông Lưu Trung T – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Đại diên theo uỷ quyền: Công ty TNHH Q2 và khai thác tài sản – Ngân hàng TMCP Q1; địa chỉ: tầng H, số C L, phường L, quận B, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo uỷ quyền lại: Ông Quách Mạnh Q – Chức vụ: Giám đốc vùng miền B; địa chỉ: tầng H, số C L, phường L, quận B, Hà Nội.
Người đại diện theo uỷ quyền lại của ông Quách Mạnh Q: Ông Nguyễn Văn O – Chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ và ông Phạm Tiến Đ – Chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ; cùng địa chỉ: tầng C, Toà nhà MB, số F lô C L, phường L, quận N, thành phố Hải Phòng; ông Nguyễn Văn O có mặt; ông Phạm Tiến Đ; vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Mạnh N; sinh năm: 1990; nơi cư trú: tổ D, khu A, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Ông Nguyễn Văn L; sinh năm: 1963; nơi cư trú: tổ D, khu A, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
- - Ông Nguyễn Văn T1; sinh năm: 1969; nơi cư trú: tổ D, khu A, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; có đơn xin vắng mặt.
- - Ủy ban nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; địa chỉ: phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Tiến D – Chức vụ: Chủ tịch.
- Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nông Vũ T2 – Chức vụ: Phó trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố H; có đơn xin vắng mặt.
- + Bà Nguyễn Thị D1; sinh năm: 1972; nơi cư trú: tổ F, khu A, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; có đơn xin vắng mặt.
4. Những người làm chứng:
- - Bà Nguyễn Thị H; sinh năm: 1958; địa chỉ: tổ E, khu H, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.
- - Bà Nguyễn Thị Mai H1; sinh năm: 1966; địa chỉ: tổ A, khu E, phường Y, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.
- - Ông Nguyễn Văn T3; sinh năm: 1971; địa chỉ: D MonBay, tổ E, khu D, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.
- - Ông Nguyễn Văn H2; sinh năm 1961; địa chỉ: tổ A, khu phố Y, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.
Đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình tố tụng, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q1 (MB) trình bày:
Ngày 29/7/2021, Ngân hàng TMCP Q1 – Chi nhánh Q3 và anh Nguyễn Mạnh N ký Hợp đồng cho vay số 141213.21.604.12126751.TD, thỏa thuận MB cho anh N vay 740.000.000đ (bảy trăm bốn mươi triệu đồng); mục đích vay: thanh toán một phần chi phí mua sắm thiết bị gia đình; thời hạn vay: 84 tháng; lãi suất trong hạn: là lãi suất thả nổi quy định tại khế ước nhận nợ; lãi quá hạn bằng 150% lãi suất vay trong hạn tại thời điểm quá hạn; lãi suất chậm trả: bằng 10%/năm. Để đảm bảo cho khoản vay ông Nguyễn Văn L thế chấp cho MB thửa đất số 32, tờ bản đồ số 22, diện tích 79,9 m² tại tổ C (nay là tổ D), khu A, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q906920, vào sổ cấp giấy chứng nhận số 1472/QSDĐ do UBND thành phố H, tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 02/12/2004 mang tên ông Nguyễn Văn T4, bà Bùi Thị K (đăng ký mang tên ông Nguyễn Văn L ngày 29/3/2016 do nhận thừa kế), theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 141237.21.604.12126751.BĐ ngày 29/7/2021.
Thực hiện hợp đồng MB giải ngân số tiền 740.000.000 đồng cho anh N theo Khế ước nhận nợ số LD2121084106 ngày 29/7/2021. Quá trình thực hiện hợp đồng, anh N đã thanh toán cho MB tiền nợ gốc là 149.770.000 đồng. Đến ngày 23/10/2022 anh N không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi cho Ngân hàng, vi phạm thỏa thuận tại Điều 6 Hợp đồng tín dụng và khoản 6 Khế ước nhận nợ. Do đó, MB khởi kiện yêu cầu:
- -Tuyên chấm dứt trước hạn Hợp đồng cho vay số 141213.21.604.12126751.TD ngày 29/07/2021.
- - Buộc anh Nguyễn Mạnh N trả nợ cho MB tính đến ngày xét xử (ngày 16/6/2025) tổng số tiền là 834.723.840 đồng, trong đó nợ gốc 590.230.000 đồng, lãi trong hạn 156.772.584 đồng, lãi quá hạn 66.282.809 đồng và phạt chậm trả lãi 21.438.038 đồng.
- - Bên vay phải thanh toán phần nợ lãi, tiền phạt phát sinh theo lãi suất quá hạn thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký, kể từ ngày 17/6/2025 cho đến khi trả hết nợ cho MB.
- - Trường hợp bên vay không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì MB được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản đảm bảo là: Quyền sử dụng 79,9 m² đất và toàn bộ tài sản gắn liền thửa đất số 32, tờ bản đồ số 22, địa chỉ tổ C (nay là tổ D), khu A, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.
- - Trường hợp số tiền thu hồi sau khi xử lý tài sản đảm bảo không đủ trả nợ, anh N phải tiếp tục thanh toán cho MB số tiền nợ còn thiếu.
* Quá trình tố tụng bị đơn anh Nguyễn Mạnh N công nhận việc ký hợp đồng tín dụng, tiền nợ gốc đã trả, tiền nợ gốc, nợ lãi chưa trả như MB trình bày là đúng và đồng ý yêu cầu khởi kiện của MB.
* Quá trình tố tụng, người có quyền và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn L công nhận việc ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng 79,9 m² đất tại thửa đất số 32 tờ bản đồ số 22, địa chỉ tổ C (nay là tổ D), khu A, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh để đảm bảo cho khoản vay của anh Nguyễn Mạnh N đúng như MB đã trình bày.
* Kết quả xem xét thẩm định tài sản thế chấp:
- - Về đất: theo GCNQSDĐ mang tên ông Nguyễn Văn L và kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất có diện tích 79,9m².
- - Về tài sản trên đất:
- + 01 ngôi nhà 03 tầng: tầng 1 diện tích 43,3m² (trong đó 40,3m² nằm trong GCNQSDĐ; 3,0m² nằm ngoài GCNQSDĐ); tầng 2 diện tích 49,0m² (trong đó 46,0m² nằm trong GCNQSDĐ; 3,0m² nằm ngoài GCNQSDĐ); tầng 3 diện tích 52,5m² (trong đó 46,0m² nằm trong GCNQSDĐ; 6,5m² nằm ngoài GCNQSDĐ).
- + 01 nhà bếp diện tích 4,4m².
- + 01 mái tôn diện tích 11,8m².
- + Phần công trình nhà 03 tầng của ông Nguyễn Văn T1 xây lấn sang thửa đất của ông Nguyễn Văn L là: phần nhà diện tích 13,6m²; phần mái đua diện tích 2,0m². Ông L và ông T1 xây nhà từ năm 2011 và xây chung tường cả 03 tầng.
* Sau khi có kết quả xem xét thẩm định, ông Nguyễn Văn L trình bày: Ông Nguyễn Văn T1 là em trai của ông. Ông T1 quản lý, sử dụng thửa đất liền kề thửa đất hiện nay ông được thừa kế của bố mẹ. Năm 2011, ông T1 xây nhà 03 tầng trên thửa đất của ông T1 và một phần thửa đất của bố mẹ ông, còn ông xây dựng ngôi nhà 03 tầng trên thửa đất của bố mẹ ông. Mọi người trong gia đình đều biết và đồng ý việc xây dựng của ông T1. Năm 2016, ông nhận thừa kế nhà đất của bố mẹ ông, nhưng chưa cập nhập lại hiện trạng thửa đất. Vì là người trong gia đình nên ông và ông T1 để sử dụng như vậy cho đến nay. Trường hợp phải xử lý tài sản thế chấp, ông đề nghị trừ phần diện tích T1 xây sang thửa đất của ông. Vì hai nhà 03 tầng xây kiên cố, chung tường, nếu tháo dỡ phần công trình xây lẫn sẽ ảnh hưởng kết cấu hai ngôi nhà. Đối với việc nhà ông xây ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 6,5m². Ông đề được xem xét cấp bổ sung và thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định.
* Tòa án bổ sung người tham gia tố tụng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan), những người này trình bày:
Ông Nguyễn Văn T1 trình bày: nhà đất ông đang sử dụng là của ông, ông mua thửa đất của cô ruột trước khi lấy vợ là bà Nguyễn Thị D1 (đã ly hôn năm 2017). Về quá trình sử dụng đất, xây dựng công trình trên đất ông công nhận ông L trình bày là đúng và đề nghị ngân hàng xử lý tài sản thế chấp trừ phần diện tích ông xây công trình nhà sang thửa đất của ông L. Vì hai nhà xây kiên cố, chung tường, không thể tháo dỡ phần công trình xây lấn.
Bà Nguyễn Thị D1 trình bày: Bà là vợ của ông Nguyễn Văn T1, nhưng đã ly hôn năm 2017. Thửa đất tại tổ D, khu A, phường B có nguồn gốc bà và ông T1 mua của cô ruột ông T1. Thửa đất liền kề thửa đất này là thửa đất của bố mẹ ông T1 là ông Nguyễn Văn T4 và bà Bùi Thị K. Năm 2011, bà và ông T1 xây nhà 03 tầng trên thửa đất, còn ông L xây nhà 03 tầng trên thửa đất của bố mẹ chồng bà. Năm 2016, ông L được thừa kế nhà đất của bố mẹ. Bà và ông T1 xây nhà 03 tầng trên làm từ đường, nên khi ly hôn bà không yêu cầu chia tài sản này. Theo kết quả thẩm định ngôi nhà xây sang thửa đất của ông L 13,6m², bà không có ý kiến gì. Đối với yêu cầu khởi kiện của ngân hàng, bà đề nghị giải quyết theo quy định.
UBND thành phố H có quan điểm: diện tích 6,5m² ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy hoạch được hoạch định là đất ở đô thị. Để được cấp giấy chứng nhận bổ sung công dân nộp hồ sơ tại Chi nhánh Trung tâm phục vụ hành chính công thành phố H để thực hiện quy trình xét duyệt thủ tục hành chính theo quy định. Đối với diện tích 13,6m² ông Nguyễn Văn T1 xây sang thửa đất nhà ông Nguyễn Văn L không thể tháo dỡ giải quyết do 02 nhà xây chung tường cả 03 tầng, nếu tháo dỡ ảnh hưởng kết cấu của hai ngôi nhà, Tòa án chỉ xử lý tài sản thế chấp là diện tích đất còn lại của thửa đất số 33 tờ bản đồ số 22 với diện tích 64,3m² thì diện tích này chưa đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận vì vẫn chồng lấn công trình, tranh chấp đất đai. Về việc xử lý tài sản thế chấp giữa M1 và ông L đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định.
Toà án triệu tập người làm chứng các ông, bà Nguyễn Thị H, Nguyễn Mai H1, Nguyễn Văn T3 và Nguyễn Văn H2, chỉ có ông H2 đến làm việc và trình bày: Ông là anh trai của ông Nguyễn Văn L và ông Nguyễn Văn T1. Ngôi nhà 03 tầng của ông T1 và ngôi nhà 03 tầng của ông L xây dựng vào năm 2011. Xây dựng trước khi ông L nhận thừa kế nhà đất. Năm 2016, ông L nhận thừa kế nhà đất của bố mẹ ông.
* Công văn số 183/UBND ngày 11/4/2025 và Công văn số 247/UBND ngày 06/5/2025 của UBND phường B có nội dung: thửa đất ông Nguyễn Văn T1 xây dựng nhà 03 tầng tại tổ D, khu A, phường B, thành phố H là thửa đất số 33 tờ bản đồ địa chính số 22, có nguồn gốc sử dụng từ năm 1997 để trồng cây lâu năm, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Phần diện tích ông T1 xây sang thửa đất số 32 tờ bản đồ số 22 là 14,8m² (trong đó 13,6m² nằm trong giấy chứng nhận và 1,2m² nằm trong tờ bản đồ địa chính thửa 32 nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận). Việc ông T1 xây dựng như trên được sự chấp thuận của các thành viên trong gia đình (ông T4, bà K và ông L). Thời điểm ông T1 xây dựng nhà năm 2011, không bị cơ quan chức năng lập biên bản xử phạt vi phạm hành chính. Căn cứ Nghị định số 123/2024/NĐ-CP ngày 04/10/2024 của Chính Phủ hành vi trên bị xử phạt hành chính với hình thức xử phạt chính là phạt tiền, biện pháp khắc phục hậu quả là buộc phải nộp lại số lợi bất chính có được khi thực hiện hành vi vi phạm, lập hồ sơ đăng ký đất đai lần đầu (không phải tháo dỡ công trình do đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận theo quy định khoản 3 Điều 139 Luật Đất đai năm 2024).
* Ngày 09/4/2025, Tòa án mở phiên họp kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau và đề nghị giải quyết vụ án theo quy định.
Tại phiên tòa, MB giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đối với việc xử lý tài sản thế chấp, do ngôi nhà 03 tầng của ông L có 6,5m² xây trên đất chưa được cấp giấy chứng nhận, UBND thành phố H có quan điểm diện tích đất này là đất ở, phù hợp quy hoạch, để cấp giấy chứng nhận bổ sung diện tích đất này công dân nộp hồ sơ để xét duyệt theo quy định, nên MB đề nghị được xử lý cả phần diện tích đất này.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- - Về tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử đã thực hiện đúng quy định tại Điều 196, Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng nhiệm vụ quy định tại Điều 51, Điều 237 Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án; đương sự thực hiện đúng quy định tại Điều 70, 71, 72 và 73 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về việc giải quyết vụ án: căn cứ các Điều 116, 117, 119, 295, 296, 298, 317, 319, 357, khoản 4 Điều 422, Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự; Điều 91; Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, đề nghị:
- + Chấm dứt Hợp đồng tín dụng số 141213.21.604.12126751.TD ngày 29/07/2021 ký giữa Ngân hàng TMCP Q1 – Chi nhánh Q3 và anh Nguyễn Mạnh N.
- + Buộc anh Nguyễn Mạnh N trả cho Ngân hàng TMCP Q1 tổng số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 16/6/2025) là 834.723.840 đồng.
- + Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q1 về xử lý tài sản thế chấp: trường hợp anh N không trả được nợ hoặc trả không đầy đủ thì Ngân hàng TMCP Q1 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý thế chấp là quyền sử dụng 70,8m², trong đó có 64,3m² đất thuộc thửa đất số 32 tờ bản đồ địa chính số 22 tại tổ C (này là tổ D), khu A, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh và 6,5m² đất tại tổ D, khu A, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau khi đã làm thủ tục cấp bổ sung) và tài sản trên đất là nhà 03 tầng, nhà bếp và mái tôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, Tòa án nhận định:
[1] Về tố tụng:
- - Quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: MB khởi kiện anh Nguyễn Mạnh N yêu cầu trả nợ theo Hợp đồng tín dụng. Anh N có địa chỉ tại phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định là tranh chấp về dân sự, quan hệ tranh chấp là “tranh chấp hợp đồng tín dụng” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hạ Long.
- - Về sự vắng mặt của đương sự: người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND thành phố H, ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị D1 có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét Hợp đồng tín dụng:
Ngày 29/7/2021, Ngân hàng TMCP Q1 – Chi nhánh Q3 và anh Nguyễn Mạnh N ký Hợp đồng cho vay số 141213.21.604.12126751.TD ngày 29/07/2021, thỏa thuận MB cho anh N vay 740.000.000đ (bảy trăm bốn mươi triệu đồng); mục đích vay: thanh toán một phần chi phí mua sắm thiết bị gia đình; thời hạn vay: 84 tháng; lãi suất trong hạn: là lãi suất thả nổi quy định tại khế ước nhận nợ; lãi quá hạn bằng 150% lãi suất vay trong hạn tại thời điểm quá hạn; lãi suất chậm trả: bằng 10%/năm. Thực hiện hợp đồng MB đã giải ngân đủ số tiền 740.000.000 đồng cho anh N theo Khế ước nhận nợ số LTI 21207000153.ST02/LD2121084106 ngày 29/7/2021.
Hợp đồng tín dụng và điều khoản cấp tín dụng, mức lãi suất được MB và anh N thoả thuận, ký kết trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, đúng quy định tại Điều 116, Điều 117, Điều 119 Bộ luật Dân sự, Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1, Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do đó, hợp đồng tín dụng có hiệu lực pháp luật, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Quá trình thực hiện hợp đồng, MB thực hiện đúng nghĩa vụ giải ngân đủ số tiền cho vay và thời gian như đã thỏa thuận, nhưng anh N không thanh toán đúng các kỳ trả nợ. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 16/6/2025), anh N còn nợ MB tổng số tiền là 834.723.840 đồng, trong đó nợ gốc là 590.230.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 156.772.584 đồng, nợ lãi quá hạn là 66.282.809 đồng và phạt chậm trả lãi là 21.438.038 đồng. Như vậy, anh N đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thoả thuận tại Điều 6 Hợp đồng tín dụng số 141213.21.604.12126751.TD ngày 29/07/2021 và khoản 6 Khế ước nhận nợ số LD2121084106 ngày 29/7/2021. Việc MB khởi kiện buộc anh N trả số nợ tiền gốc, nợ lãi trong hạn và lãi quá hạn, lãi phạt như trên là có căn cứ theo quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự, nên chấp nhận.
Đối với yêu cầu chấm dứt Hợp đồng tín dụng: theo thoả thuận tại Hợp đồng tín dụng số 141213.21.604.12126751.TD ngày 29/07/2021 và Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số LTI 21207000153.ST02/LD2121084106 ngày 29/7/2021 thì thời hạn cấp tín dụng là 84 tháng kể từ ngày 30/7/2021 đến ngày 29/7/2028. Tuy nhiên, do anh N vi phạm nghĩa vụ trả nợ, MB khởi kiện buộc anh N trả toàn bộ nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi phạt đối với hợp đồng. Dó đó, MB yêu cầu chấm dứt Hợp đồng tín dụng là có căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 422 Bộ luật Dân sự, nên chấp nhận.
[2.2] Xét hợp đồng thế chấp:
Để đảm bảo cho khoản vay, MB và ông Nguyễn Văn L ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 141213.21.604.12126751.BĐ ngày 29/07/2021, thỏa thuận ông L thế chấp thửa đất số 32, tờ bản đồ số 22, địa chỉ tổ C (nay là tổ D), khu A, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở số Q, vào sổ cấp giấy chứng nhận số 1472/QSDĐ do UBND thành phố H, tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 02/12/2004 mang tên ông Nguyễn Văn T4, bà Bùi Thị K (đăng ký mang tên ông Nguyễn Văn L ngày 29/3/2016 do nhận thừa kế) cho MB. Hợp đồng thế chấp được ký trên cơ sở tự nguyện, mục đích và nội dung thoả thuận phù hợp đạo đức xã hội, không vi phạm điều cấm của pháp luật, tài sản thế chấp thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bên thế chấp, được đăng ký thế chấp theo quy định tại các Điều 295, 296, 298, 317, 319 Bộ luật Dân sự; Điều 4 Nghị định 107/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính Phủ về đăng ký biện pháp đảm bảo. Như vậy, hợp đồng thế chấp là hợp pháp, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên.
Kết quả xem xét thẩm định đối với tài sản thế chấp: thửa đất số 32 tờ bản đồ số 22 mang tên ông Nguyễn Văn L diện tích 79,9m², trên đất có công trình nhà 03 tầng (6,5m² xây ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất), 01 nhà bếp diện tích 4,4m²; 01 mái tôn diện tích 11,8m² và phần công trình nhà 03 tầng của ông Nguyễn Văn T1 xây lấn sang thửa đất của ông L gồm phần nhà diện tích 13,6m² và phần mái đua diện tích 2,0m².
Về yêu cầu xử lý tài sản gắn liền với thửa đất: tại Mục 1.2 Điều 1 Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 141213.21.604.12126751.BĐ ngày 29/07/2021 thì tài sản thế chấp là thửa đất số 32 tờ bản đồ số 22, địa chỉ tổ C (nay là tổ D), khu A, phường B, thành phố H. Tuy nhiên, M 5.4.3 Điều 5 của Hợp đồng quy định “.....trường hợp phải xử lý quyền sử dụng đất để thu hồi nợ thì MB được xử lý cả tài sản gắn liền với đất và các quyền, quyền lợi, quyền tài sản, lợi ích gắn liền, phát sinh từ quyền sử dụng của tài sản thế chấp....”. Do đó, MB yêu cầu xử lý tài sản gắn liền với thửa đất là có căn cứ.
Về yêu cầu xử lý quyền sử dụng đất: theo kết quả xem xét thẩm định diện tích nhà 03 tầng ông T1 xây lấn sang thửa đất của ông L khá rộng, hai nhà xây chung tường cả ba tầng kiên cố, việc tháo dỡ phần công trình xây lấn sẽ ảnh hưởng đến kết cấu của hai ngôi nhà. Nếu xử lý tài sản thế chấp là cả thửa đất không thể thi hành án, do có phần công trình không thể tháo dỡ như trên. Đây cũng là một phần lỗi của MB khi xem xét thẩm định tài sản thế chấp. Mặt khác, theo Công văn số 183/UBND ngày 11/4/2025 và Công văn số 247/UBND ngày 06/5/2025 của UBND phường B, công trình nhà ông T1 xây năm 2011, được ông T4, bà K và ông L đồng ý, không bị cơ quan chức năng lập biên bản xử phạt vi phạm hành chính, không thuộc trường hợp phải tháo dỡ do đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo quy định tại Điều 220 Luật Đất đai năm 2024; điểm b khoản 1 Điều 3 Quy định kèm theo Quyết định số 44/2024/QĐ-UBND ngày 15/10/2024 của UBND tỉnh Q quy định về điều kiện, diện tích tối thiểu của việc tách thửa, hợp thửa đối với từng loại đất trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, sau khi trừ đi diện tích đất có công trình xây chồng lấn, phần diện tích 64,3m² còn lại của thửa đất số 32 tờ bản đồ số 22 đủ điều kiện tách thửa. Do đó, chỉ có cơ sở chấp nhận xử lý tài sản thế chấp là phần diện tích còn lại của thửa đất không bị chồng lấn. Ngoài ra, ông L xây dựng một phần công trình nhà 03 tầng trên 6,5m² đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. UBND thành phố H có quan điểm theo quy hoạch diện tích đất trên được hoạch định là đất ở đô thị, để được cấp giấy chứng nhận bổ sung diện tích đất, công dân nộp hồ sơ thực hiện quy trình xét duyệt theo quy định. Do đó, việc MB đề nghị khi xử lý tài sản thế chấp được xử lý cả phần diện tích đất này là có căn cứ. Tuy nhiên, trước khi xử lý, phải làm thủ tục cấp bổ sung theo quy định.
Từ phân tích trên, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của MB về xử lý tài sản thế chấp, trường hợp anh N không trả nợ thì MB có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng 64,3m² đất thuộc thửa đất số 32 tờ bản đồ địa chính số 22 và 6,5m² chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau khi làm thủ tục cấp bổ sung) và toàn bộ tài sản trên đất.
[3] Về chi phí tố tụng: chi phí xem xét thẩm định hết số tiền 9.000.000 đồng. MB đã tạm ứng số tiền này. Yêu cầu khởi kiện của MB được chấp nhận nên anh Nguyễn Mạnh N có nghĩa vụ trả cho MB số tiền xem xét thẩm định trên.
Kể từ ngày Ngân hàng TMCP Q1 có đơn yêu cầu thi hành án, anh Nguyễn Mạnh N không trả số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ nêu trên thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
[4] Về án phí: yêu cầu khởi kiện của MB được chấp nhận, anh Nguyễn Mạnh N phải trả cho MB tổng số tiền là 834.723.840 đồng, nên chịu 37.041.715 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trả lại MB 17.245.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.
[5] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sựCác Điều 116, 117, 119, 295, 296, 298, 317, 319, 357, khoản 4 Điều 422, Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự; Điều 91; Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1; Điều 4 Nghị định 107/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính Phủ; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao “hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm”; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q1 về việc:
- - Chấm dứt Hợp đồng tín dụng số 141213.21.604.12126751.TD ngày 29/07/2021 giữa Ngân hàng TMCP Q1 – Chi nhánh Q3 và anh Nguyễn Mạnh N.
- - Buộc anh Nguyễn Mạnh N trả cho Ngân hàng TMCP Q1 tổng số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 16/6/2025) là 834.723.840đ (tám trăm ba mươi bốn triệu bảy trăm hai mươi ba nghìn tám trăm bốn mươi đồng), trong đó nợ gốc là 590.230.000đ (năm trăm chín mươi triệu hai trăm ba mươi nghìn đồng), lãi trong hạn là 156.772.584đ (một trăm năm mươi sáu triệu bảy trăm bảy mươi hai nghìn năm trăm tám mươi bốn đồng), lãi quá hạn là 66.282.809₫ (sáu mươi sáu triệu hai trăm tám mươi hai nghìn tám trăm linh chín đồng) và phạt chậm trả lãi là 21.438.038đ (hai mươi mốt triệu bốn trăm ba mươi tám nghìn không trăm ba mươi tám đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 16/6/2025) cho đến khi thi hành án xong, anh Nguyễn Mạnh N còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quá hạn các bên đã thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 141213.21.604.12126751.TD ngày 29/07/2021.
3. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q1 về xử lý tài sản thế chấp: trường hợp anh Nguyễn Mạnh N không trả được nợ hoặc trả không đầy đủ thì Ngân hàng TMCP Q1 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý thế chấp để thu hồi nợ theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 141213.21.604.12126751.BĐ ngày 29/07/2021 giữa Ngân hàng TMCP Q1 – Chi nhánh Q3 và ông Nguyễn Văn L, cụ thể là:
Quyền sử dụng 70,8m² đất được giới hạn bởi các điểm (1,2,3,e'e,f,k,v,m,n,u,5,6,7,a,1), trong đó có 64,3m² đất thuộc thửa đất số 32 tờ bản đồ địa chính số 22 tại tổ C (này là tổ D), khu A, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q906920, vào sổ cấp giấy chứng nhận số 1472/QSDĐ do UBND thành phố H, tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 02/12/2004 mang tên ông Nguyễn Văn T4, bà Bùi Thị K (đăng ký mang tên ông Nguyễn Văn L ngày 29/3/2016 do nhận thừa kế) và 6,5m² đất được giới hạn bởi các điểm (5,k,v,m,n,u,5) tại tổ D, khu A, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản trên đất là nhà 03 tầng, nhà bếp và mái tôn.
Ngân hàng TMCP Q1 và ông Nguyễn Văn L có quyền, nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền thực hiện đăng ký biến động đất đai đối với diện tích 64,3m² và nộp hồ sơ thực hiện quy trình xét duyệt thủ tục hành chính đối với 6,5m² theo quy định.
(có sơ đồ khảo sát hiện trạng sử dụng đất kèm theo và là phần không thể tách rời Bản án).
4. Về chi phí tố tụng: Anh Nguyễn Mạnh N có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Q1 9.000.0000đ (chín triệu đồng) tiền xem xét thẩm định tại chỗ.
Kể từ ngày Ngân hàng TMCP Q1 có đơn yêu cầu thi hành án, anh Nguyễn Mạnh N không trả số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ nêu trên thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
5. Về án phí: Anh Nguyễn Mạnh N phải chịu 37.041.715₫ (ba mươi bảy triệu không trăm bốn mươi mốt nghìn bảy trăm mười lăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Trả lại Ngân hàng TMCP Q1 17.245.000đ (mười bảy triệu hai trăm bốn mươi lăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001263 ngày 22/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của của Bộ luật Tố tụng dân sự.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thu Hiền |
Bản án số 26/2025/DS-ST ngày 16/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 26/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCQ Q - Nguyễn Mạnh N
