|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Q. LIÊN CHIỂU, TP. ĐÀ NẴNG |
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 26/2025/DS-ST Ngày: 14/4/2025 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Anh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Huỳnh Thị Lệ
Ông Nguyễn Văn Chi
- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Thị Phương Thùy – Thư ký Tòa án nhân dân
quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng tham
gia phiên tòa: Ông Võ Quang Tiến - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở, Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 111/2024/TLST-DS ngày 29/5/2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 166/2024/QĐXX-ST ngày 29 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ1. Địa chỉ trụ sở: Số B N, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đình L, chức danh: Chủ tịch HĐQT.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Mai Xuân T, chức danh:
Giám đốc Khối QL&TCTTS. Người được ủy quyền lại: Bà Nguyễn Thị Kim X, ông Hoàng Thế Q, bà Phan Thị Thanh H, ông Nguyễn Văn L1, bà Lê Thị Thúy H1; cùng địa chỉ: số B đường C tháng D, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng (Theo Giấy ủy quyền 10771/UQ-PVB ngày 10/6/2020 của Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng TMCP Đ1 và Giấy ủy quyền số 10813/UQ-PVB ngày 16/5/2024 của ông Mai Xuân T). Ông L1 có mặt; bà X, ông Q, bà H, bà H1 vắng mặt.
2. Bị đơn: Ông Trần M, sinh năm 1974 và bà Lê Thị Kim A, sinh năm 1971.
Cùng địa chỉ cư trú: Tổ I T, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Nguyễn Thị M1, sinh năm 1974; Có mặt.
Chị Đinh Huyền T1, sinh năm 2000; Có mặt.
Cùng địa chỉ cư trú: Tổ A, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện đề ngày 15/5/2024, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn thông qua người đại diện theo ủy quyền của mình trình bày:
Ông Trần M và bà Lê Thị Kim A vay vốn tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ1 (P) (sau đây gọi tắt là Ngân hàng Đ1) bằng các hợp đồng tín dụng, cụ thể như sau:
1. Hợp đồng cho vay số: 77/2022/HĐTD/PVB-PGDNHS ngày 05/5/2022: Theo đó, ngân hàng cho ông M và bà Kim A vay số tiền 2.500.000.000 đồng; mục đích vay là để hoàn vốn mua bất động sản; thời hạn vay: 228 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên; kỳ hạn trả nợ gốc và lãi: Ngày 15 hàng tháng; Lãi suất: Lãi suất trong hạn: Ghi nhận tại khế ước nhận nợ (12 tháng đầu: 6,8%/năm. Sau thời gian ưu đãi được điều chỉnh 3 tháng/lần với LSCV=LSCS+ margin 3%/năm). Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn. Lãi suất chậm trả lãi: 10%/năm.
2. Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 23/6/2022: Hạn mức thẻ tín dụng: 100.000.000 đồng. Lãi suất: Lãi suất thẻ trong hạn: 25%/năm. Lãi suất thẻ quá hạn: 150% lãi trong hạn. Các giao dịch sử dụng thẻ sẽ bị tính lãi: giao dịch rút tiền mặt, giao dịch thanh toán hàng hóa dịch vụ và các giao dịch khác phát sinh theo quy định của P theo từng thời kỳ, các loại phí phát sinh khi sử dụng thẻ. Ngày sao kê: Ngày 5 hàng tháng.
Để bảo đảm cho việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ tài chính của mình tại P, bà Lê Thị Kim A và ông Trần M đã dùng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 72, tờ bản đồ số 130, địa chỉ: Tổ B, phường H, quận L, TP . theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BR 807652 do Sở T4 cấp ngày 21/05/2014 cho ông Đinh Văn T2 và bà Nguyễn Thị M1 (được chuyển nhượng cho bà Lê Thị Kim A và ông Trần M ngày 17/05/2018) để thế chấp tại P theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 77/2022/HĐBĐ/PVB-PGDNHS ngày 05/05/2022. Hợp đồng thế chấp nêu trên đã được ký kết, công chứng và đăng ký thế chấp theo đúng quy định của pháp luật.
Thực hiện Hợp đồng cho vay, P đã thực hiện giải ngân 01 lần bằng hình thức chuyển khoản số tiền: 2.500.000.000 đồng vào tài khoản số [...] tại P cho bà Lê Thị Kim A và ông Trần M theo Khế ước nhận nợ ngày 05/05/2022. Và phát hành thẻ tín dụng hạn mức 100.000.000 đồng cho bà Lê Thị Kim A và ông Trần M theo quy định của Ngân hàng.
Quá trình thực hiện trả nợ theo cam kết tại Hợp đồng cho vay, bà Lê Thị Kim A và ông Trần M đã thực hiện trả nợ hàng tháng cho P với số tiền đã thanh toán là: 296.069.881 đồng (Trong đó: Nợ gốc: 121.723.493 đồng: Nợ lãi: 174.346.388 đồng). Tuy nhiên, kể từ kỳ trả nợ ngày 13/7/2023, bà Lê Thị Kim A và ông Trần M đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo cam kết tại Hợp đồng cho vay và thẻ tín dụng.
Tính đến hết ngày 14/4/2025 bà Lê Thị Kim A và ông Trần M còn nợ P tổng số tiền là: 3.263.276.164 đồng, cụ thể:
- - Đối với hợp đồng cho vay số: 77/2022/HĐTD/PVB-PGDNHS ngày 05/5/2022: Nợ gốc: 2.378.276.507 đồng. Nợ lãi: 704.174.632 đồng.
- - Đối với Thẻ tín dụng: Dư nợ gốc: 89.238.330. Nợ lãi và phí: 91.586.695 đồng.
Nay ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Buộc bà Lê Thị Kim A và ông Trần M phải trả cho Ngân hàng TMCP Đ1 số tiền gốc và lãi phát sinh từ Hợp đồng cho vay số 77/2022/HĐTD/PVB-PGDNHS ngày 05/05/2022 và Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 23/06/2022 tạm tính đến hết ngày 14/4/2025 là 3.263.276.164 đồng (Trong đó: Nợ gốc và lãi của Hợp đồng cho vay số 77/2022/HĐTD/PVB-PGDNHS ngày 05/05/2022 là 3.082.451.139 đồng; Nợ gốc và lãi, phí của Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 23/06/2022 là 180.825.025 đồng)
- Buộc bà Lê Thị Kim A và ông Trần M phải tiếp tục trả cho Ngân hàng TMCP Đ1 các khoản nợ lãi, phí phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số 77/2022/HĐTD/PVB-PGDNHS ngày 05/05/2022 và Giấy đề nghị cấp tín dụng, đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm hợp đồng tín dụng ngày 23/06/2022 kể từ ngày 15/4/2025 cho đến khi tất toán khoản vay.
- Trường hợp bà Lê Thị Kim A và ông Trần M không thanh toán được nghĩa vụ nợ thì Ngân hàng TMCP Đ1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, xử lý tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 72, tờ bản đồ số 130, địa chỉ: Tổ B, Phường H, Quận L, TP . theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 77/2022/HĐBĐ/PVB- PGDNHS ngày 05/05/2022 để thanh toán khoản nợ của bà Lê Thị Kim A và ông Trần M tại P.
Quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn là bà Lê Thị Kim A trình bày: Bà xác nhận vợ chồng bà có vay số tiền 2.500.000.000 đồng của Ngân hàng Đ1 theo Hợp đồng cho vay số: 77/2022/HĐTD/PVB-PGDNHS ngày 05/5/2022. Ngày 23/6/2022 bà có ký Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng với Ngân hàng TMCP Đ1 để xin phát hành thẻ tín dụng với hạn mức thẻ tín dụng: 100.000.000 đồng. Đây là khoản nợ cá nhân của bà, chồng bà là ông Trần M không biết, không tham gia. Do ảnh hưởng của lũ lụt năm 2020 nên công việc làm ăn của bà bị phá sản vì vậy bà không trả nợ cho ngân hàng đúng cam kết được. Khi vay tiền của ngân hàng thì vợ chồng bà có thế chấp cho ngân hàng tài sản là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 72, tờ bản đồ số 130, tại địa chỉ: Tổ A (tổ B cũ), phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Đây là tài sản của bà Nguyễn Thị M1 cho vợ chồng bà mượn để thế chấp vay vốn làm ăn thông qua hợp đồng chuyển nhượng và đã được đăng ký biến động sang tên cho vợ chồng bà vào ngày 17/5/2018. Trước đây bà đã dùng tài sản này để thế chấp vay vốn của ngân hàng khác rồi sau đó mới chuyển qua Ngân hàng Đ1.
Tại phiên tòa, bà xác nhận vợ chồng bà còn nợ Ngân hàng Đ1 số tiền nợ gốc và lãi của Hợp đồng cho vay số: 77/2022/HĐTD/PVB-PGDNHS ngày 05/5/2022 với số tiền là 3.082.451.139 đồng và cá nhân bà còn nợ Ngân hàng Đ1 số tiền nợ gốc và lãi, phí của Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 23/06/2022 là 180.825.025 đồng.
Nay vì điều kiện của bà khó khăn, công việc phá sản, bị bệnh tật nên bà đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện cho bà trả tiền gốc trong thời gian hợp lý và được miễn, giảm tiền lãi để bà có thời gian kinh doanh kiếm tiền chuộc lại nhà trả cho bà Nguyễn Thị M1.
Tại phiên tòa bị đơn là ông Trần M trình bày: Ông thống nhất với lời trình bày của vợ ông là bà Lê Thị Kim A. Ông xác nhận vợ chồng ông có vay của Ngân hàng TMCP Đ1 theo Hợp đồng cho vay số: 77/2022/HĐTD/PVB-PGDNHS ngày 05/5/2022 và thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 72, tờ bản đồ số 130, tại địa chỉ: Tổ A (tổ B cũ), phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Đối với thẻ tín dụng là khoản nợ cá nhân của bà Lê Thị Kim A chứ ông hoàn toàn không biết, không tham gia. Ông xác nhận vợ chồng ông còn nợ Ngân hàng Đ1 số tiền nợ gốc và lãi của Hợp đồng cho vay số: 77/2022/HĐTD/PVB-PGDNHS ngày 05/5/2022 với số tiền là 3.082.451.139 đồng. Nay vì điều kiện khó khăn của vợ chồng nên ông mong Ngân hàng tạo điều kiện cho trả tiền gốc trong thời gian hợp lý và được miễn, giảm tiền lãi.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Nguyễn Thị M1 trình bày: Nhà và đất tại thửa số 72, tờ bản đồ số 130, tại địa chỉ: Tổ A (tổ B cũ), phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng là tài sản của bà. Vì là chị em thân thiết nên bà tin tưởng và cho vợ chồng bà Lê Thị Kim A mượn để thế chấp vay ngân hàng lấy vốn làm ăn thông qua việc ký kết hợp đồng chuyển nhượng. Nay vợ chồng bà Lê Thị Kim A phá sản không trả được nợ cho Ngân hàng, bà xin Ngân hàng cho vợ chồng bà Kim A thời gian làm ăn kiếm tiền để chuộc lại nhà cho bà. Hoàn cảnh gia đình bà rất khó khăn, chồng bà là bộ đội đã mất vì ung thư, hiện chỉ còn hai mẹ con nương tựa vào nhau. Bà xác định không có yêu cầu độc lập gì.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – chị Đinh Huyền T1 trình bày: Nhà và đất tại thửa số 72, tờ bản đồ số 130, địa chỉ: Tổ A (tổ B cũ), phường H, quận L là tài sản của mẹ bà. Hiện bà đang sống ở trong nhà đất này. Trước đây mẹ bà tin tưởng cho bà Lê Thị Kim A mượn để thế chấp vay ngân hàng lấy vốn làm ăn. Nay bà đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện cho bà Kim A thời gian làm ăn kiếm tiền trả nợ.
Tài liệu, chứng cứ của vụ án: Đơn khởi kiện; bản sao hợp đồng cấp tín dụng và khế ước nhận nợ, Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, đơn yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hồ sơ pháp lý của nguyên đơn; biên bản xem xét, thẩm định tại chổ.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng những quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn là ông Trần M và bà Lê Thị Kim A phải trả cho Ngân hàng Đ1 số tiền nợ gốc và lãi của Hợp đồng cho vay số: 77/2022/HĐTD/PVB-PGDNHS ngày 05/5/2022 là 3.082.451.139 đồng. Đề nghị buộc bà Lê Thị Kim A phải trả cho Ngân hàng Đ1 số tiền nợ gốc và lãi, phí của Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 23/06/2022 là 180.825.025 đồng. Đề nghị không chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng Đ1 về việc buộc bị đơn ông Trần M phải có nghĩa vụ liên đới trả nợ số tiền 180.825.025 đồng của Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 23/06/2022.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà HĐXX nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
[1] Nguyên đơn khởi kiện bị đơn phải trả số tiền đã vay theo hợp đồng tín dụng, bị đơn là ông Trần M và bà Lê Thị Kim A có địa chỉ nơi cư trú tại quận L. Do vậy, đây là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
[2] Vào ngày 05/5/2022, Ngân hàng Đ1 và vợ chồng ông Trần M bà Lê Thị Kim A ký kết Hợp đồng cho vay số: 77/2022/HĐTD/PVB-PGDNHS. Theo đó, ngân hàng cho ông M và bà Kim A vay số tiền 2.500.000.000 đồng; mục đích vay là để hoàn vốn mua bất động sản; thời hạn vay: 228 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên; kỳ hạn trả nợ gốc và lãi: Ngày 15 hàng tháng; Lãi suất: Lãi suất trong hạn: Ghi nhận tại khế ước nhận nợ (12 tháng đầu: 6,8%/năm. Sau thời gian ưu đãi được điều chỉnh 3 tháng/lần với LSCV=LSCS+ margin 3%/năm). Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn. Lãi suất chậm trả lãi: 10%/năm. Ngân hàng đã thực hiện giải ngân 01 lần bằng hình thức chuyển khoản số tiền: 2.500.000.000 đồng vào tài khoản số [...] tại P cho bà Lê Thị Kim A và ông Trần M theo Khế ước nhận nợ ngày 05/05/2022.
[3] Vào ngày 23/6/2022, Ngân hàng Đ1 và bà Lê Thị Kim A ký kết Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: Hạn mức thẻ tín dụng: 100.000.000 đồng. Lãi suất: Lãi suất thẻ trong hạn: 25%/năm. Lãi suất thẻ quá hạn: 150% lãi trong hạn. Các giao dịch sử dụng thẻ sẽ bị tính lãi: giao dịch rút tiền mặt, giao dịch thanh toán hàng hóa dịch vụ và các giao dịch khác phát sinh theo quy định của P theo từng thời kỳ, các loại phí phát sinh khi sử dụng thẻ. Thực hiện hợp đồng, ngân hàng đã phát hành thẻ tín dụng hạn mức 100.000.000 đồng cho bà Lê Thị Kim A theo quy định của Ngân hàng.
[4] Xét thấy việc ký kết hợp đồng tín dụng vay tiền và khế ước nhận nợ giữa các bên đương sự là hoàn toàn tự nguyện, nội dung thoả thuận trong hợp đồng không trái quy định của luật, không trái đạo đức xã hội nên Hợp đồng cho vay số: 77/2022/HĐTD/PVB-PGDNHS ngày 05/5/2022 giữa Ngân hàng Đ1 và vợ chồng ông Trần M, bà Lê Thị Kim A và Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 23/6/2022 giữa Ngân hàng Đ1 và bà Lê Thị Kim A có hiệu lực và được pháp luật công nhận, bảo vệ.
[5] Quá trình thực hiện hợp đồng thì ông Trần M, bà Lê Thị Kim A không trả nợ gốc và lãi đầy đủ, đúng hạn theo thỏa thuận nên đã vi phạm Hợp đồng cho vay số: 77/2022/HĐTD/PVB-PGDNHS ngày 05/5/2022, vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Do đó, căn cứ Điều 280, 466 của Bộ luật Dân sự, Điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Trần M bà Lê Thị Kim A có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Đ1 số tiền nợ tính đến ngày 14/4/2025 là 3.082.451.139 đồng (Trong đó nợ gốc là: 2.378.276.507 đồng, nợ lãi là: 704.174.632 đồng).
[6] Đối với khoản nợ theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 23/6/2022 giữa Ngân hàng Đ1 và bà Lê Thị Kim A, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 23/6/2022 thể hiện Ngân hàng Đ1 phát hành thẻ tín dụng hạn mức 100.000.000 đồng cho cá nhân bà Lê Thị Kim A, nguyên đơn không cung cấp được bất kỳ chứng cứ nào thể hiện khoản nợ này có sự đồng ý của ông Trần M. Ông Trần M và bà Lê Thị Kim A khai nhận khoản nợ của thẻ tín dụng này là nợ cá nhân của bà Lê Thị Kim A, không liên quan đến ông Trần M. Do vậy, không có căn cứ để xác định khoản nợ theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 23/6/2022 giữa Ngân hàng Đ1 và bà Lê Thị Kim A là khoản nợ chung của vợ chồng ông Trần M và bà Lê Thị Kim A theo quy định của Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình. Bà Lê Thị Kim A không trả nợ gốc và lãi, phí theo đúng thỏa thuận của Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 23/6/2022 nên đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Lê Thị Kim A có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Đ1 số tiền nợ tính đến ngày xét xử 14/4/2025 của Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 23/6/2022 là 180.825.025 đồng.
[7] Ngân hàng Đ1 yêu cầu vợ chồng ông Trần M và bà Lê Thị Kim A cùng có trách nhiệm liên đới trả khoản nợ theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 23/6/2022. Như đã phân tích tại mục [6] thì không có căn cứ xác định khoản nợ này là nợ chung của vợ chồng nên Hội đồng xét xử không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc ông Trần M có nghĩa vụ liên đới trả khoản nợ theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 23/6/2022 với số tiền 180.825.025 đồng.
[8] Về biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ: Để đảm bảo cho toàn bộ các khoản vay của ông Trần M và bà Lê Thị Kim A tại Ngân hàng Đ1 thì ông Trần M và bà Lê Thị Kim A đã dùng tài sản là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 72, tờ bản đồ số 130, địa chỉ: Tổ B (cũ) tổ A (mới), phường H, quận L, TP . theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BR 807652 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố T4 cấp ngày 21/05/2014 cho ông Đinh Văn T2 và bà Nguyễn Thị M1 (được chuyển nhượng cho bà Lê Thị Kim A và ông Trần M ngày 17/05/2018) thế chấp cho Ngân hàng Đ1 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 77/2022/HĐBĐ/PVB-PGDNHS ngày 05/05/2022. Khi nhận thế chấp tài sản, ngân hàng đã thực hiện thủ tục xem xét, báo cáo xác định giá tài sản bảo đảm theo đúng quy định của ngân hàng. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Minh xác Đ biết rõ việc bà Lê Thị Kim A dùng tài sản thế chấp cho ngân hàng và đồng ý việc cho bà Lê Thị Kim A mượn tài sản là nhà đất để thế chấp cho ngân hàng thông qua hợp đồng chuyển nhượng để đảm bảo các khoản vay. Như vậy, việc ký kết hợp đồng thế chấp giữa các bên là tự nguyện, nội dung hợp đồng không trái quy định của luật, không trái đạo đức xã hội, hợp đồng thế chấp đã được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định nên hợp đồng thế chấp có hiệu lực pháp luật. Do vậy, trường hợp ông Trần M và bà Lê Thị Kim A không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ cho ngân hàng thì ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi toàn bộ số nợ.
[9] Đối với việc cho mượn nhà đất để vay vốn ngân hàng thông qua hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa bà Nguyễn Thị M1 và vợ chồng ông Trần M bà Lê Thị Kim A, quá trình tố tụng các đương sự không có yêu cầu Tòa án giải quyết gì đối với tranh chấp này nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết. Sau này, nếu bà Nguyễn Thị M1, ông Trần M, bà Lê Thị Kim A có tranh chấp với nhau thì có quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật.
[10] Về án phí dân sự sơ thẩm:
[10.1] Ông Trần M và bà Lê Thị Kim A phải chịu theo qui định của pháp luật là: 72.000.000 đồng + (1.082.451.139 đồng x 2%) = 93.649.022 đồng.
[10.2] Bà Lê Thị Kim A phải chịu theo qui định của pháp luật là: 180.825.025 đồng x 5% = 9.041.251 đồng.
[10.3] Ngân hàng Đ1 phải chịu án phí đối với yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận là 300.000 đồng.
[4] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: 3.000.000 đồng ông Trần M và bà Lê Thị Kim A phải chịu theo qui định của pháp luật. Ngân hàng Đ1 đã nộp và chi xong nên cần buộc ông Trần M bà Lê Thị Kim A trả lại cho Ngân hàng Đ1 số tiền 3.000.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 235, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 280, 299, 317, 318, 463, 466 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ1 đối với ông Trần M và bà Lê Thị Kim A về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng".
Tuyên xử:
- Buộc ông Trần M và bà Lê Thị Kim A có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ1 số tiền nợ theo hợp đồng cho vay số: 77/2022/HĐTD/PVB-PGDNHS ngày 05/5/2022 là 3.082.451.139 đồng (ba tỷ không trăm tám mươi hai triệu bốn trăm năm mươi mốt nghìn một trăm ba mươi chín đồng) (Trong đó nợ gốc là: 2.378.276.507 đồng, nợ lãi là: 704.174.632 đồng; lãi được tính đến ngày 14/4/2025).
Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm, ông Trần M và bà Lê Thị Kim A còn phải tiếp tục trả lãi theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số: 77/2022/HĐTD/PVB-PGDNHS ngày 05/5/2022 cho đến khi trả hết toàn bộ nợ gốc. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Buộc bà Lê Thị Kim A có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ1 số tiền nợ theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 23/6/2022 là 180.825.025 đồng (một trăm tám mươi triệu tám trăm hai mươi lăm nghìn không trăm hai mươi lăm đồng) (Trong đó nợ gốc là: 89.238.330 đồng, nợ lãi, phí là: 91.586.695 đồng; lãi, phí được tính đến ngày 14/4/2025).
Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm, bà Lê Thị Kim A còn phải tiếp tục trả lãi, phí theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng là Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 23/6/2022 cho đến khi trả hết toàn bộ nợ gốc. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu ông Trần M và bà Lê Thị Kim A không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số tiền gốc và lãi, phí nói trên cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ1 thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ1 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (là một ngôi nhà cấp 4, diện tích xây dựng 87,7 m², nhà một tầng có gác lững đúc có kết cấu: Tường xây, mái tôn) tại thửa đất số 72, tờ bản đồ số 130, địa chỉ: Tổ B (cũ) tổ A (mới), phường H, quận L, TP . (Có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BR 807652 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố T4 cấp ngày 21/05/2014 cho ông Đinh Văn T2 và bà Nguyễn Thị M1, chuyển nhượng cho ông Trần M và bà Lê Thị Kim A theo hồ sơ số 405444.CN.004 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại quận L chỉnh lý biến động ngày 17/05/2018) theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 77/2022/HĐBĐ/PVB-PGDNHS ngày 05/05/2022.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ1 về việc yêu cầu ông Trần M có trách nhiệm liên đới trả nợ đối với số tiền 180.825.025 đồng theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 23/6/2022.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- 5.1. Ông Trần M và bà Lê Thị Kim A phải chịu 93.649.022 đồng (chín mươi ba triệu sáu trăm bốn mươi chín nghìn không trăm hai mươi hai đồng).
- 5.2. Bà Lê Thị Kim A phải chịu 9.041.251 đồng (chín triệu không trăm bốn mươi mốt nghìn hai trăm năm mươi mốt đồng).
- 5.3. Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ1 phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 44.545.000 đồng (bốn mươi bốn triệu năm trăm bốn mươi lăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000703 ngày 28/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Ngân hàng TMCP Đ1 đã nộp đủ án phí sơ thẩm và được hoàn trả số tiền chênh lệch là 44.245.000 đồng (bốn mươi bốn triệu hai trăm bốn mươi lăm nghìn đồng).
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Buộc ông Trần M và bà Lê Thị Kim A phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ1 số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng (ba triệu đồng).
- Án xử công khai sơ thẩm, đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Anh Tuấn |
Bản án số 26/2025/DS-ST ngày 14/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 26/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng tín dụng
