Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ TÂN CHÂU

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 26/2025/DS-ST

Ngày: 06-6-2025

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Nhựt.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Lưu Văn Hoàng;
  • 2. Ông Nguyễn Thanh Tuấn.

Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Minh Cảnh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thuỳ Linh – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2025, tại Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 725/2024/TLST-DS ngày 26 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2025/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 4 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 55/2025/QĐST-DS ngày 06 tháng 5 năm 2025; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên toà số: 11/TB-TA ngày 22 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần H1; Địa chỉ trụ sở: Số E, đường N, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hoàng L - Chức vụ: Tổng Giám đốc Ngân hàng.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Đức Q - Chức vụ: Tổng giám đốc Ngân hàng Q1 (giấy ủy quyền số 12402/2023/UQ-TGĐ12 ngày 29/01/2023).

Người được ủy quyền lại: Ông Võ Văn L1, sinh năm 1994; Địa chỉ: Số A đường T, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang. Giấy ủy quyền số 4612/2024/UQ-TGĐ12 ngày 04/6/2024 (có mặt).

- Bị đơn: Bà Phạm Ngọc T, sinh năm 1973 và ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1971; Địa chỉ: Tổ A, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang. (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 11/7/2024 và quá trình giải quyết vụ án, đại diện nguyên đơn là ông Võ Văn L1 trình bày:

- Đối với hợp đồng tín dụng: Ngày 19/01/2022, giữa Ngân hàng TMCP H1-Chi nhánh C – Phòng G (sau đây viết tắt là M) và bà Phạm Ngọc T đã ký kết Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng cho vay số 013/TCH/2022/11ĐCV ngày 19/01/2022 để bà T vay số tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng), mục đích vay: mua sắm trang thiết bị/Nội thất gia đình, thời hạn vay: 48 tháng. Lãi suất cho vay được tính như sau:

Lãi suất trong hạn: Áp dụng kể từ ngày giải ngân lần đầu tiên cho đến ngày 18/05/2022 là: 189%/năm (cơ sở tính 1 năm là 365 ngày).

Lãi suất quá hạn: Khoản nợ gốc quá hạn phải chịu lãi suất quá hạn tính trên dư nợ gốc bị quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay thông trường trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.

Đối với khoản lãi tính trên nợ gốc mà đến hạn chưa trả, khách hàng phải chịu mức lãi suất chậm trả bằng: 10%/năm tính trên số dư lại chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Lãi suất quá hạn và lãi suất chậm trả là cố định, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

Phương thức áp dụng Lãi suất: Kỳ điều chỉnh lãi suất: 3 tháng/lần; Mức điều chỉnh lãi suất: Lãi suất cho vay = Lãi suất cơ sở + Biên độ 2%/Năm.

Kỳ hạn trả nợ gốc, lãi: Ngày điều chỉnh lãi suất kỳ đầu tiên là 18/05/2022; Ngày gốc trả đều hàng tháng, lãi trả hàng tháng theo dư nợ gốc thực tế giảm dần; Số kỳ trả gốc: 48 kỳ. Ngày trả nợ gốc lần đầu tiên vào ngày 16/03/2022. Các kỳ tiếp theo nợ gốc được trả 1 tháng/lần vào ngày 16 hàng tháng. Số tiền gốc phải trả mỗi kỳ: 4.166.667 đồng, kỳ cuối trả tất toán.

Số kỳ trả lãi: 48 kỳ. Ngày trả nợ lãi lần đầu tiên vào ngày 16/02/2022. Các kỳ tiếp theo nợ lãi được trả 1 tháng/lần vào ngày 16 hàng tháng.

- Đối với thẻ tín dụng: Căn cứ Giấy đăng ký kiêm Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng MSB ngày 19/01/2022 của Bà Phạm Ngọc T Theo đó Ngân hàng TMCP H1 Chi nhánh C – Phòng G (sau đây viết tắt là M) đã cấp cho bà Phạm Ngọc T 01 thẻ tín dụng có hạn mức thẻ: 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng), mục đích vay vốn chi tiêu cá nhân, thời hạn sử dụng: 36 tháng. Lãi suất trong hạn: Căn cứ Giấy đăng ký kiêm Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng MSB và Biểu lãi suất, phí thẻ tín dụng tại M thì bà Phạm Ngọc T sử dụng loại thẻ Mastercard Super Free lãi suất áp dụng là 40%/năm. Lãi suất quá hạn: 145% lãi suất chi tiêu trong hạn.

Đồng thời, tại thời điểm giao kết hợp đồng thì bà Phạm Ngọc T và ông Nguyễn Thanh H (chồng bà T) có ký kết Văn bản đồng thuận về việc bà T đứng tên vay vốn, đề nghị cấp thẻ tín dụng và cùng thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng theo các hợp đồng, văn bản đã thoả thuận.

Quá trình thực hiện Hợp đồng: Ngày 19/01/2022, MSB đã giải ngân cho bà Phạm Ngọc T theo Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng cho vay số 013/TCH/2022/HĐCV ngày 19/01/2022 với số tiền 200.000.000 đồng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà Phạm Ngọc T và ông Nguyễn Thanh H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ gốc và lãi theo đúng cam kết, thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay đã ký kết. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 06/6/2025) bà Phạm Ngọc T và ông Nguyễn Thanh H đã thanh toán cho MSB số tiền 34.930.000 đồng (Trong đó gốc: 20.834.111 đồng lãi trong hạn: 14.087.670 đồng, lãi quá hạn: 8.219 đồng).

Ngày 19/01/2022, MSB đã cấp cho bà Phạm Ngọc T theo Giấy đăng ký kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng MSB với hạn mức thẻ là 20.000.000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng bà Phạm Ngọc T đã vi phạm Điều khoản điều kiện giao dịch chung về việc cấp tín dụng đối với khách hàng Cá nhân tại MSB, qua đó bà Phạm Ngọc T đã không thanh toán các khoản nợ gốc, lãi và phí theo đúng cam kết, tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 06/6/2025) bà Phạm Ngọc T đã thanh toán cho MSB số tiền gốc là 400.000 đồng, lãi 846.000 đồng.

Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với bà T, ông H yêu cầu thanh toán ngay khoản nợ, lãi đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để bà T, ông H trả nợ, tuy nhiên vẫn chưa thanh toán khoản nợ quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã quy định tại Hợp đồng tín dụng, thẻ tín dụng đã giao kết.

Tính đến ngày 06/6/2025, bà Phạm Ngọc T và ông Nguyễn Thanh H còn nợ MSB với tổng số tiền: 347.210.812 đồng (Ba trăm bốn mươi bảy triệu hai trăm mười nghìn tám trăm mười hai đồng), trong đó:

  • Hợp đồng cho vay số 013/TCH/2022/HĐCV ngày 19/01/2022 có dư nợ gốc: 179.165.889 đồng; nợ lãi trong hạn: 97.980.065 đồng; nợ lãi quá hạn: 19.325.022 đồng.
  • Hợp đồng thẻ tín dụng ngày 19/01/2022 có dư nợ gốc 19.600.000 đồng; lãi trong hạn 22.295.671 đồng; lãi quá hạn 8.844.165 đồng.

Tại phiên toà, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện: Buộc bà Phạm Ngọc T và ông Nguyễn Thanh H phải nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần H1 số tiền nợ tính đến ngày 06/6/2025 là 347.210.812 đồng và yêu cầu tiếp tục tính lãi phát sinh kể từ ngày tiếp ngày xét xử sơ thẩm theo trên nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất đã thoả thuận tại Đề nghị vay vốn khiêm hợp đồng cho vay số 013/TCH/2022/HĐCV ngày 19/01/2022 và Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay theo hạn mức thấu chi ngày 19/01/2022 cho đến khi thanh toán hết nợ.

Quá trình giải quyết, bà Phạm Ngọc T, ông Nguyễn Thanh H vắng mặt nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được. Tòa án mở phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ. Các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, Tòa án thu thập được đã được thông báo và tống đạt hợp lệ cho bà Phạm Ngọc T, ông Nguyễn Thanh H.

Tại biên bản lấy lời khai bà Phạm Ngọc T ngày 27/3/2025, bà T có ý kiến:

Bà và ông Nguyễn Thanh H là vợ chồng, có nhận được các văn bản tố tụng của Toà án tống đạt về việc Ngân hàng Thương mại Cổ phần H1 khởi kiện yêu cầu trả nợ các khoản vay, thẻ tín dụng quá hạn thanh toán, đồng thời cũng nhận được bản sao các tài liệu, chứng cứ kèm theo của nguyên đơn. Qua nội dung yêu cầu khởi kiện, các tài liệu, chứng cứ kem theo của nguyên đơn, bà thừa nhận nợ khoản vay, nợ tiền thẻ tín dụng cùng với số tiền mà Ngân hàng yêu cầu là đúng, không có ý kiến về nội dung yêu cầu khởi kiện, số tiền còn nợ. Việc vay nợ như trên là nhu cầu mua bán, mua sắm, chi tiêu gia đình, vợ chồng cùng đồng thuận vay tiền. Thời gian đầu có trả vốn gốc, lãi nhưng sau gia đình khó khăn nên không thực hiện trả vốn gốc, lãi dẫn đến vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Bà không có yêu cầu phản tố, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nhưng chưa có khả năng thanh toán ngay và có đơn xin vắng mặt tại các phiên hoà giải, công khai chứng cứ, phiên toà xét xử.

Tại biên bản lấy lời khai ông Nguyễn Thanh H ngày 15/4/2025, ông H có ý kiến:

Ông và bà Phạm Ngọc T là vợ chồng, có nhận được các văn bản tố tụng của Toà án tống đạt về việc Ngân hàng Thương mại Cổ phần H1 khởi kiện yêu cầu trả nợ các khoản vay, thẻ tín dụng quá hạn thanh toán, đồng thời cũng nhận được bản sao các tài liệu, chứng cứ kèm theo của nguyên đơn. Qua nội dung yêu cầu khởi kiện, các tài liệu, chứng cứ kem theo của nguyên đơn, lời khai bà T, ông thừa nhận nợ khoản vay, nợ tiền thẻ tín dụng cùng với số tiền mà Ngân hàng yêu cầu là đúng, không có ý kiến về nội dung yêu cầu khởi kiện, số tiền còn nợ. Do hoàn cảnh gia đình hiện đang khó khăn nên không có tiền trả nợ. Ông không có yêu cầu độc lập, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nhưng chưa có khả năng thanh toán ngay và có đơn xin vắng mặt tại các phiên hoà giải, công khai chứng cứ, phiên toà xét xử.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và giải quyết vụ án.

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực đúng hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo của Bộ luật Tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý cho đến khi giải quyết vụ án.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng từ giai đoạn thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 100 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Phạm Ngọc T, ông Nguyễn Thanh H có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần H1 số tiền tạm tính đến ngày 06/6/2025 là 347.210.812 đồng (Ba trăm bốn mươi bảy triệu hai trăm mười nghìn tám trăm mười hai đồng), trong đó:

  • Hợp đồng cho vay số 013/TCH/2022/HĐCV ngày 19/01/2022 có dư nợ gốc: 179.165.889 đồng; nợ lãi trong hạn: 97.980.065 đồng; nợ lãi quá hạn: 19.325.022 đồng.
  • Hợp đồng thẻ tín dụng ngày 19/01/2022 có dư nợ gốc 19.600.000 đồng; lãi trong hạn 22.295.671 đồng; lãi quá hạn 8.844.165 đồng.

Kể từ ngày 07/6/2025, bà Phạm Ngọc T và ông Nguyễn Thanh H còn phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền lãi trên nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất đã thoả thuận tại Đề nghị vay vốn khiêm hợp đồng cho vay số 013/TCH/2022/HĐCV ngày 19/01/2022 và Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay theo hạn mức thấu chi ngày 19/01/2022 cho đến khi thanh toán hết nợ.

Về án phí: Bà Phạm Ngọc T, ông Nguyễn Thanh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng với bị đơn là bà Phạm Ngọc T và ông Nguyễn Thanh H có đăng ký nơi cư trú tại khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn bà Phạm Ngọc T, ông Nguyễn Thanh H vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về hình thức hợp đồng: Ngày 19/01/2022, Ngân hàng M và bà Phạm Ngọc T, ông Nguyễn Thanh H có ký kết khoản vay theo Đề nghị vay vốn khiêm hợp đồng cho vay số 013/TCH/2022/HĐCV ngày 19/01/2022 và Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay theo hạn mức thấu chi ngày 19/01/2022.

Xét thấy, hợp đồng ký kết giữa hai bên đảm bảo về mặt hình thức, chủ thể ký kết có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, nội dung hợp đồng thể hiện sự tự nguyện của các bên, không vi phạm điều cấm của pháp luật nên được xem là hợp pháp, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa các bên được pháp luật bảo vệ.

[2.2] Về nội dung hợp đồng: Xét thấy, ngày 19/01/2022, M đã giải ngân cho bà Phạm Ngọc T theo Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng cho vay số 013/TCH/2022/HĐCV ngày 19/01/2022 với số tiền 200.000.000 đồng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà Phạm Ngọc T và ông Nguyễn Thanh H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ gốc và lãi theo cam kết, thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay đã ký kết, tính đến ngày 06/6/2025, bà Phạm Ngọc T và ông Nguyễn Thanh H chỉ thanh toán cho MSB số tiền 34.930.000 đồng (Trong đó gốc: 20,834,111 đồng, lãi trong hạn: 14,087,670 đồng, lãi quá hạn: 8,219 đồng). Còn nợ số tiền 296.470.976 đồng, trong đó: Nợ gốc 179.165.889 đồng; nợ lãi trong hạn 97.980.065 đồng; lãi quá hạn 19.325.022 đồng.

Ngoài ra, ngày 19/01/2022, MSB đã cấp cho bà Phạm Ngọc T theo Giấy đăng ký kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng MSB, 01 thẻ tín dụng với hạn mức thẻ là 20.000.000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng bà Phạm Ngọc T đã vi phạm Điều khoản điều kiện giao dịch chung về việc cấp tín dụng đối với khách hàng Cá nhân tại MSB, qua đó bà Phạm Ngọc T đã không thanh toán các khoản nợ gốc, lãi và phí theo cam kết, tính đến ngày 06/6/2025, bà Phạm Ngọc T chỉ thanh toán cho MSB số tiền gốc là 400.00 đồng. Còn nợ số tiền 50.739.836 đồng. Trong đó: Nợ gốc 19.600.000 đồng; nợ lãi trong hạn 22.295.671 đồng; lãi quá hạn 8.844.165 đồng.

Bà Phạm Ngọc T, ông Nguyễn Thanh H thừa nhận có vay và thống nhất còn nợ số tiền như trình bày của phía Ngân hàng M, đồng ý trả nợ nhưng do điều kiện kinh tế và sức khỏe nên hiện nay chưa có khả năng thanh toán cho ngân hàng.

Từ những căn cứ trên, Ngân hàng yêu cầu Toà án buộc bà Phạm Ngọc T1 và ông Nguyễn Thanh H phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần H1 số tiền tạm tính đến ngày 06/6/2025 là 347.210.812 đồng là có căn cứ nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đồng thời, kể từ ngày 07/6/2025, bà Phạm Ngọc T và ông Nguyễn Thanh H còn phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền lãi trên nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất đã thoả thuận tại Đề nghị vay vốn khiêm hợp đồng cho vay số 013/TCH/2022/HĐCV ngày 19/01/2022 và Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay theo hạn mức thấu chi ngày 19/01/2022 cho đến khi thanh toán hết nợ.

[3] Về án phí: Bà Phạm Ngọc T, ông Nguyễn Thanh H cùng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Ngân hàng Thương mại Cổ phần H1 được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 463, Điều 466 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Các Điều 100, 103 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024; các Điều 147, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 7, Điều 8, điểm a khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần H1.

Buộc bà Phạm Ngọc T và ông Nguyễn Thanh H có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần H1 số tiền tính đến ngày 06/6/2025 là 347.210.812 đồng (Ba trăm bốn mươi bảy triệu hai trăm mười nghìn tám trăm mười hai đồng).

Kể từ ngày 07/6/2025, bà Phạm Ngọc T và ông Nguyễn Thanh H còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Đề nghị vay vốn khiêm hợp đồng cho vay số 013/TCH/2022/HĐCV ngày 19/01/2022 và Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay theo hạn mức thấu chi ngày 19/01/2022 cho đến khi thanh toán hết nợ khoản nợ.

[2] Về án phí: Bà Phạm Ngọc T và ông Nguyễn Thanh H cùng phải chịu 17.360.000 đồng (Mười bảy triệu ba trăm sáu mươi nghìn đồng).

Ngân hàng Thương mại Cổ phần H1 được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 7.127.000 đồng (Bảy triệu một trăm hai mươi bảy nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009020 ngày 25/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu.

[3] Về quyền kháng cáo: Ngân hàng Thương mại Cổ phần H1 có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; thời hạn kháng cáo của bà Phạm Ngọc T và ông Nguyễn Thanh H là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - VKSND Tx.Tân Châu;
  • - Chi cục THADS Tx.Tân Châu;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Minh Nhựt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2025/DS-ST ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 26/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP H1 khởi kiện Phạm Ngọc T, Nguyễn Thanh H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger