|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 26/2025/DS-PT Ngày:19-02-2025. V/v: "Tranh chấp quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiệp
Các thẩm phán: Ông Lê Văn Duy
Ông Thái Văn Hà
Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mỹ Tiên - Thư ký TAND tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa:
Bà Lê Thị Vân- Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số:164/2024/TLPT-DS ngày 04 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp quyền sở hữu”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 257/2024/DS-ST ngày 18/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 249/2024/QĐ-PT ngày 02 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Ngô Đình K, sinh năm 1962; có mặt
Địa chỉ: Tổ C, KV1, phường T, TP., Bình Định
Bị đơn : Anh Nguyễn Thành L, sinh năm 1974; có mặt
Địa chỉ: Tổ A, KV2, phường T, TP., Bình Định
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Bà Nguyễn Thị N- Luật sư, thuộc đoàn luật sư tỉnh B; có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
-
Chị Trần Thị N1, sinh năm 1972
Địa chỉ: Tổ A, KV2, phường T, TP., Bình Định
Người đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Thành L; có mặt
( Giấy ủy quyền công chứng ngày 26.8.2022)
-
Chị Đào Thị M, sinh năm 1969
Địa chỉ: Tổ C, KV1, phường T, TP., Bình Định
Người đại diện theo ủy quyên: Anh Ngô Đình K; có mặt
( Giấy ủy quyền công chứng ngày 03.6.2022)
Anh Nguyễn Văn N2, sinh năm 1981; vắng mặt
Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1942; vắng mặt
Chị Đỗ Thị Mỹ L1, sinh năm 1986; vắng mặt
Chị Đỗ Thị T, sinh năm1980; vắng mặt
Chị Đỗ Thị S, sinh năm1986; vắng mặt
Cùng địa chỉ: Tổ A, KV2, P. T, TP., Bình Định; vắng mặt
Người kháng cáo: Bị đơn anh Đỗ Thành L2; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị N1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 18.01.2022 nguyên đơn anh Ngô Đình K trình bày: Ngày 22.12.2013 anh nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị C một phần thửa đất số 133, tờ bản đồ số 20, tại Tổ A, KV B, phường T, TP. với diện tích chiều ngang theo đường L - L 13m, dài từ đường vào hết đất phía sau, có tứ cận: Đông giáp mép đường L - L dài 13m; Tây giáp đất ông Nguyễn Thành L dài 13m; Nam giáp phần đất còn lại của bà Nguyễn Thị C dài hết đất; Bắc giáp đất ông Đỗ Kim S1 dài hết đất. Hai bên có lập Giấy bán đất với giá thỏa thuận là 260.000.000₫ (Hai trăm sáu mươi triệu đồng), có sự chứng kiến và ký làm chứng của ông Nguyễn Thành L, bà C đã nhận đủ tiền và giao đất cho anh.
Ngày 30.12.2013, anh và anh Nguyễn Thành L có thỏa thuận miệng hoán đổi một phần diện tích cho nhau, cụ thể: Anh nhận của anh L 30m² (6m x 5m) phía bắc thửa đất của anh L; anh giao cho anh L 20m² (5m x 4m) phía đông nhà anh L, phần diện tích còn lại rộng khoảng 4m dài 9,8m nối ra đường lớn thuộc quyền sử dụng của anh nhưng cho anh L đi nhờ từ nhà anh L ra đường Đ - L.
Ngày 20/5/2020, anh Nguyễn Thành L đã tự ý xây nhà tạm mở quán (vòm sắt, mái tol) trên toàn bộ diện tích đất của anh đã cho anh L đi nhờ nêu trên để làm địa điểm kinh doanh nước giải khát. Khi phát hiện sự việc, anh đã làm đơn khiếu nại gửi chính quyền địa phương và được Khu phố và UBND phường T nhiều lần tổ chức hòa giải và đã thỏa thuận được nhưng sau đó anh L cố tình sử dụng, né tránh không chịu thương lượng với anh như cam kết khi hòa giải.
Nay yêu cầu anh Nguyễn Thành L phải tháo dỡ nhà quán khung khép, mái tôn để trả lại phần diện tích theo biên bản đo đạt ngày 16.11.2023 của Công ty TNHH Đ1 thuộc một phần thửa đất số 133, tờ bản đồ số 20, tại Tổ A, KV2, phường T, thành phố Q để anh quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật.
Bị đơn anh Nguyễn Thành L trình bày:
Ngày 20.04.2004 anh có nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị C diện tích 150m² (6m x25m), có tứ cận: Đông giáp bầu Giấu; Tây giáp đất ông Nguyễn Thành Đ; Nam giáp phần đất Lê Thị M1; Bắc giáp đất ông Nguyễn Văn T1, thuộc thửa đất số 145, tờ bản đồ số 20 nay thửa đất số 133, tờ bản đồ số 20, tại tổ A, KV B, phường T, thành phố Q. Ngày 30.12.2013 anh và anh Ngô Đình K thoả thuận miệng hoán đổi một phần diện tích đất cho nhau; anh đổi cho anh K có tứ cận: Đông giáp đất ông K; Tây giáp đất ông Nguyễn Văn T1 + Nguyễn Thành Đ; Nam giáp đất anh; Bắc giáp đất ông Nguyễn Văn T1; lấy diện tích của anh K giao cho anh có tứ cận: Đông giáp đường L - L; Tây giáp đất của anh; Nam giáp đất bà C; Bắc giáp đất ông K. Năm 2020 anh làm nhà tạm mở quán trên phần đất anh K đã đổi năm 2013, nên không đồng ý trả lại đất theo yêu cầu khởi kiện của anh K.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Ngô Đình K là đại diện theo uỷ quyền của chị Đào Thị M trình bày: Thống nhất lời khai của anh K khai trên.
Anh Nguyễn Thành L là đại diện uỷ quyền chị Trần Thị N1 trình bày: Thống nhất lời khai của anh L khai trên.
Tại bản khai ngày 06/6/2022 anh Nguyễn Văn N2 trình bày: Vào năm 2018 anh có mua của bà Nguyễn Thị C khoảng đất thuộc thửa 133, tờ bản đồ số 20 diện tích 15x15 cùng với anh L và anh K; có tứ cận: Đông giáp đường L, Tây giáp đất nhà anh Nguyễn Văn N2, Nam giáp đất anh Ngô Đình K, Bắc giáp đất ông Nguyễn Thành L. Gia đình bà C đã thống nhất ký bán cho anh.
Việc tranh chấp giữa anh K và anh L không liên quan phần đất anh đã mua của bà C nói trên và đề nghị giải quyết vắng mặt.
Tại bản khai ngày 02/11/2022 bà Nguyễn Thị C trình bày: Bà có thửa đất số 133, tờ bản đồ số 20 được nhà nước cấp giấy chứng nhận QSDĐ; bà có bán một phần đất cho ông Ngô Đình K có diện tích 13m x13m có tứ cận: Đông giáp đường L, Tây giáp đất ông Nguyễn Thành L, Nam giáp đất bà Nguyễn Thị C, Bắc giáp đất ông Đỗ Kim S1, có viết giấy bán đất cho anh K. Bà bán cho anh Nguyễn Thành L vào ngày 20.2.2004, diện tích 6m x25m, có viết giấy chuyển nhượng QSDĐ cho anh L và bán cho anh Nguyễn Văn N2 vào năm 2018, diện tích 15m x15m, có viết giấy. Thửa đất có diện tích 439,4m² đã bán cho anh K, anh L và anh N2 và bị giải toả nên hết diện tích thửa đất.
Việc anh K và anh L đổi đất cho nhau bà không biết; nay xảy ra tranh chấp bà không có ý kiến, vì già yếu không thể đến tòa, nên xin vắng mặt.
Chị Đỗ Thị Mỹ L1, chị Đỗ Thị T, chị Đỗ Thị S là thành viên trong sử dụng đất hộ bà Nguyễn Thị C đã triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa làm việc, Tòa đã tiến hành tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Bản án dân sự sơ thẩm số:257/2024/DS-ST ngày 18/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định đã quyết định:
Căn cứ Điều 26, 227 - Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 221, 223, 254 Bộ luật dân sự;
Áp dụng khoản 2 điều 26 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 về án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử :
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Ngô Đình K.
-
Buộc anh Nguyễn Thành L, chị Trần Thị N1 có nghĩa vụ giao lại cho anh Ngô Đình K, diện tích 43,745 m² có tứ cận: Đông giáp mép đường L - L; Tây giáp nhà, đất anh L; Nam giáp lối đi chung anh K giao cho anh L, chị N1; Bắc giáp đất anh K theo bản vẽ đo đạt ngày 16.11.2023.
Anh Ngô Đình K có trách nhiệm liên hệ với các cơ quan chức năng làm thủ tục cấp giấy CNQSDĐ theo quy định pháp luật.
-
Anh Ngô Đình K có nghĩa vụ giao cho anh Nguyễn Thành L, chị Trần Thị N1 số tiền 36.972.000đ (tiền xây dựng nhà tạm làm quán); anh L, chị N1 được nhận số tiền 36.972.000₫ anh K giao.
-
Anh Ngô Đình K có nghĩa vụ giao cho anh Nguyễn Thành L, chị Trần Thị N1 diện tích để quản lý, sử dụng làm lối đi riêng 19,455m² (1,5 x 12,97) có tứ cận: Đông giáp mép đường L - L; Tây giáp nhà, đất anh L; Nam giáp nhà anh N2; Bắc giáp đất anh K(diện tích 43,745 m²).
Anh Nguyễn Thành L, chị Trần Thị N1 có nghĩa vụ giao cho anh Ngô Đình K số tiền 2.879.000 đồng (giá trị đất làm lối đi); anh K được nhận số tiền 2.879.000đồng anh L, chị N1 giao.
-
Bác lời nại của bị đơn vì không phù hợp theo quy định pháp luật.
-
Về chi chí xem xét tại chổ, thẩm định giá, đo đạt: Anh Ngô Đình K đã ứng 20.000.000đồng, anh K chịu 10.000.000đồng được trừ vào tiền tạm ứng trước đây, anh K đã thanh toán xong. Anh Nguyễn Thanh L3 chịu 10.000.000đồng, có nghĩa vụ hoàn lại cho anh Ngô Đình K số tiền 10.000.000đồng.
-
Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Thanh L3 phải chịu 300.000 đồng. H lại cho anh Ngô Đình K tiền tạm ứng án phí 300.000đồng theo biên lai thu tiền số 0003589 ngày 28.3.2022 của Cơ quan thi hành án dân sự thành phố Q.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về quyền nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 30/9/2024, bị đơn anh Nguyễn Thành L và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị N1 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm số: 257/2024/DS-ST ngày 18/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, với cùng yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Anh Nguyễn Thành L, đồng thời cũng là đại diện hợp pháp của chị Trần Thị N1 giữ nguyên nội dung kháng cáo và trình bày: Năm 2013, anh và anh Ngô Đình K thỏa thuận hoán đổi một phần diện tích đất đã nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị C tại thửa đất số 133, tờ bản đồ số 20, cụ thể: anh giao cho anh K khoảng 30m² (6m x 5m)phía bắc thửa đất của anh hiện nay và nhận của anh K hơn 80m² từ nhà anh nối ra đến đường L - L, có tứ cận: Đông giáp đường L - L; Tây giáp nhà đất của anh; Nam giáp đất bà C bán cho ông N2; Bắc giáp đất ông K. Năm 2020 anh làm nhà tạm mở quán nước trên phần đất đã hoán đổi trên. Cho nên, yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Còn khi hòa giải ở Khu phố anh và anh K có thỏa thuận mua lại phần đất tranh chấp với giá thỏa thuận hoặc đổi đất của anh lấy phần đất tranh chấp là do khi đó chưa biết đất bà C chuyển nhượng cho anh K là có nguồn gốc đất của ông bà để lại, bà C không có quyền chuyển nhượng, nên không thực hiện thỏa thuận tại các lần hòa giải.
Anh Ngô Đình K trình bày: Do phần đất anh nhận chuyển nhượng có phần lõm do đất của anh Nguyễn Thành L và đất của anh L xây dựng sẽ không có lối đi ra đường. Cho nên, năm 2013 giữa anh và anh L có thỏa thuận miệng hoán đổi một phần diện tích đất cho nhau, cụ thể: anh nhận của anh L khoảng 30m² (6m x 5m)phía bắc thửa đất của anh hiện nay và giao cho anh L khoảng 20m² (rộng 4m x dài 5m)phía đông nhà anh L nối ra đường L - L, phần diện tích tiếp theo còn lại nối ra đến mép đường L - L là cho anh L đi nhờ. Năm 2020 anh L tự ý làm vòm sắt, mái tôn (nhà tạm làm quán) trên diện tích phần đất của anh cho đi nhờ, nên từ đó xảy ra tranh chấp. Sự việc đã được hòa giải ở Khu phố và ở Phường, lúc đầu thỏa thuận anh L mua lại phần đất đã làm nhà tạm theo giá thỏa thuận, sau đó thỏa thuận đổi đất, nhưng anh L cũng không thực hiện. Cho nên, nay yêu cầu anh L tháo dỡ nhà tạm trả lại cho anh 63,2m² theo biên bản đo đạt ngày 16.11.2023 của Công ty TNHH Đ1.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn, Luật sư Nguyễn Thị N trình bày: Diện tích đất mà bà Nguyễn Thị C đã chuyển nhượng cho anh L năm 2004, anh K năm 2013, anh Nguyễn Văn N2 năm 2018 và diện tích bị thu hồi là lớn hơn nhiều so với diện tích thửa đất số 133, tờ bản đồ số 20 đã cấp cho bà C. Tòa án cấp sơ thẩm chưa xác minh làm rõ trong diện tích đất bà C đã chuyển nhượng cho ông L và ông K nêu trên có phần diện tích thửa đất số 131, tờ bản đồ 20(đất hoang) hay không. Chưa đưa bà Nguyễn Thị Họa M2 là vợ N2 tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; thời điểm xét xử sơ thẩm bà C đã chết nhưng chưa xác định và đưa người kế thừa quyền nghĩa vụ của bà C tham gia tố tụng là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng mà cấp phúc thẩm không thể khắc phục được. Đề nghị HĐXX xem xét hủy bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định phát biểu ý kiến:
Về tố tụng:
Trong quá trình giải quyết vụ án người tiến hành tố tụng, nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng quy định của pháp luật. Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt đều đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng tiến hành xét xử.
Về nội dung:
Theo biên bản hoà giải Khu phố ngày 24.7.2020 và ngày 09.6.2020 có nội dung anh L thỏa thuận đổi thêm đất cho anh K hoặc lấy phần đất tranh chấp với giá thỏa thuận. Tại biên bản đối chất ngày 14/11/2022 anh L cũng thừa nhận gia đình anh sử dụng lối đi thông qua đất của bà C đã bán cho anh K để ra đường L-L, nếu giải quyết cho anh K thì gia đình anh không có đường đi. Hơn nữa, thực tế đo đạt ngày 16/11/2023, từ nhà anh Liên thông Q đường L-L(trong đó có phần đất tranh chấp 63,2m²) là gấp gần 3 lần diện tích anh L đã hoán đổi cho anh K. Nên anh L, chị N1 cho rằng đất tranh chấp đã hoán đổi xong là không phù hợp.
Cấp sơ thẩm chưa xem xét buộc bị đơn chịu án phí có giá ngạch đối với phần giá trị tài sản đã nhận của nguyên đơn sau khi trừ đi giá trị quyền sử dụng đất làm lối đi phải trả cho nguyên đơn. Còn về chi phí tố tụng: nguyên đơn không kháng cáo nên không có cơ sở xem xét.
Từ phân tích trên, đề nghị HĐXX không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của anh L chị N1, áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật TTDS sửa bản án sơ thẩm về phần án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Kháng cáo của bị đơn anh Nguyễn Thành L và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị N1 là trong thời hạn, hình thức và nội dung đơn kháng cáo đúng quy định pháp luật nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[1.2] Về quan hệ pháp luật và phạm vi tranh chấp:
Sau khi nhận chuyển nhượng đất của bà Nguyễn Thị C, giữa anh Ngô Đình K và anh Nguyễn Thành L thoả thuận bằng lời nói hoán đổi một phần diện tích đất cho nhau, nhưng không thống nhất phần diện tích đất của anh K đã đổi cho anh L. Theo anh K: phần đất anh đổi cho anh L là khoảng 20m² (dài 5m x rộng 4m) phía đông nhà anh L nối ra đường L - L, phần diện tích tiếp theo còn lại nối ra đến đường L - L mà năm 2020 anh L xây dựng nhà tạm để làm quán nước là anh cho anh L đi nhờ, nêu yêu cầu anh L tháo dỡ trả lại đất cho anh. Còn anh L thì cho rằng: Toàn bộ diện tích đất từ nhà anh nối ra đến đường L - L có diện tích hơn 80m² giới cận: Đông giáp đường L - L; Tây giáp nhà đất của anh; Nam giáp đất bà C bán cho ông N2; Bắc giáp đất anh K là đất của anh K nhận chuyển nhượng của bà C đã thỏa thuận đổi cho anh sử dụng năm 2013. Cho nên, HĐXX xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Theo đơn yêu cầu xem xét tại chỗ tài sản đang tranh chấp là diện tích đất làm nhà tạm ngày 04/11/2022 của nguyên đơn, Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ có cán bộ địa chính và tư pháp phường và trích đo địa chính thửa đất và nhà cùng ngày 16/11/2023 của Công ty TNHH Đ1 xác định phạm vi tranh chấp là đất làm nhà tạm, diện tích 63,2m², giới cận: Đông giáp đường L- L; Tây giáp nhà đất của anh L; Nam giáp nhà đất ông Nguyễn Văn N2; Bắc giáp nhà đất ông K, thuộc thửa đất số 133, tờ bản đồ số 20, tại Tổ A, Khu V, Phường T.
[2] Xét nội dung kháng cáo của anh Nguyễn Thành L và kháng cáo của chị Trần Thị N1, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[2.1] Anh L chị N1 cho rằng diện tích làm nhà tạm có diện tích 63,2m² mà vợ chồng anh đang sử dụng theo kết quả đo đạt ngày là 16/11/2023 của Công ty TNHH Đ1 là đất đã được anh K hoán đổi từ năm 2013. Tuy nhiên, khi anh L chị N1 làm nhà tạm thì phát sinh tranh chấp với ông K và đã tiến hành hòa giải, cụ thể:
Theo biên bản hoà giải ở Khu phố ngày 09.6.2020, anh K và anh L thống nhất tự thoả thuận giá chuyển nhượng, anh L nhận diện tích đang làm nhà tạm và hẹn về bàn với gia đình số tiền nhận chuyển nhượng. Tại biên bản hoà giải ở Khu phố ngày 24.7.2020 thì anh K và anh L thống nhất đổi đất, anh L nhận phần đất đang làm nhà tạm, đổi cho anh K đất phía sau nhà anh L. Tổ hoà giải tiến hành đo vẽ mô phỏng lại phần đất đã hoán đổi năm 2013 giữa anh K và anh L, theo đó: anh L giao cho anh K 30m²(5 m x 6m) và nhận của anh K 21,2m²( 4m x 5,3m), phần diện tích còn lại đến đường L-L 39,2m²(dài 9,8m x rộng 4m). Tại biên bản đối chất ngày 14/11/2022 anh L thừa nhận gia đình anh sử dụng lối đi thông qua đất của bà C đã bán cho anh K để ra đường L- L, nếu giải quyết cho anh K thì gia đình anh không có đường đi.
Còn tại phiên tòa phúc thẩm: anh L cho rằng: Toàn bộ diện tích hơn 80m² từ nhà anh ra đường L - L là đất bà C chuyển nhượng cho anh K có nguồn gốc đất của ông bà để lại, bà C không có quyền chuyển nhượng là mâu thuẫn với chính mình tại các lần hòa giải ngày 09.6.2020 và ngày 24.7.2020 nêu trên và không có căn cứ.
Hơn nữa, thực tế đo đạt ngày 16/11/2023, từ nhà anh Liên thông Q đường L-L, (trong đó có phần đất tranh chấp 63,2m²) có diện tích gấp gần 3 lần so với diện tích anh L đã hoán đổi cho anh K.
[2.2] Theo "Trích đo địa chính thửa đất và nhà”, thửa đất số 133, tờ bản đồ số 20 ngày 16/11/2023 của Công ty TNHH Đ1, có tứ cận: Đông giáp đường L - L; Tây giáp nhà đất của anh L; Nam giáp đất anh N2; Bắc giáp đất anh K, trong đó anh L làm nhà tạm có diện tích 63,2m²(dài 12,97m và 13,5 m, rộng 4,86m và 4,82m), nhà anh L không có lối đi nào khác.
Tại cấp phúc thẩm anh L chị N1 không cung cấp thêm được tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình là có cơ sở.
Cho nên, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh K, đồng thời cũng giải quyết cho anh L được quyền sử dụng làm lối đi riêng 19,455m² (rộng 1,5 x dài 12,97)ngay trên phần đất đã tranh chấp (63,2m²) là triệt để, thuận tiện và hợp lý nhất quy định tại Điều 254 Bộ luật dân sự. Anh K thanh toán lại cho anh L chị N1 giá trị nhà tạm trên đất; anh L chị N1 thanh toán lại cho anh K giá trị đất làm lối đi theo giá của Hội đồng định giá tài sản.
[2.3] Về chi phí xem xét tại chỗ, định giá, đo đạt: Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nhưng anh K phải chịu ½ chi phí xem xét tại chỗ, định giá, đo đạt là chưa phù hợp với quy định tại các Điều 157 và Điều 165 Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, anh K không kháng cáo, nên không có cơ sở xem xét.
[2.4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh L phải chịu 300.000 đồng, trả lại cho anh K 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp là có căn cứ quy định khoản 2 điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm chưa buộc bị đơn phải chịu án phí có giá ngạch đối với phần giá trị được hưởng quy định tại khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.
[3] Đối với yêu cầu hủy bản án sơ thẩm do cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn, HĐXX thấy rằng: Nguyên đơn chỉ tranh chấp một phần diện tích thửa 133, tờ bản đồ số 20, bị đơn
cũng không có yêu cầu phản tố, người liên quan không có yêu cầu độc lập, nên chỉ xem xét trong phạm vi khởi kiện của nguyên đơn quy định tại Điều 5 BLTTDS. Mặc khác, trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà C ngoài thửa 145(điều chỉnh thành thửa 133) còn có thửa 131là loại đất màu, không phải đất hoang. Anh N2 là chủ thửa đất liền kề với phần diện tích đất anh K và anh L đang tranh chấp; bà C là người đã chuyển nhượng đất cho anh L, anh K và anh N2. Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định anh N2, bà C là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Tuy nhiên, anh N2 cho rằng: do đất của anh đã có ranh giới, không liên quan đến phần đất mà anh K và anh L đang tranh chấp. Còn bà C thừa nhận có chuyển nhượng một phần diện tích thửa đất số 133 cho anh L, anh K và anh N2, khi chuyển nhượng có viết giấy, còn việc anh K và anh L có đổi đất cho nhau hay không bà không biết. Cho nên, việc xác minh diện tích đất bà C đã chuyển nhượng cho ông L và ông K; đưa chị M2 (vợ anh N2) và những người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của bà C tham gia tố tụng trong vụ án là không cần thiết. Hơn nữa, tại phiên tòa: anh L và người bảo vệ quyền lợi của anh L cho rằng: bà C chết trước khi mở phiên tòa sơ thẩm nhưng không cung cấp được chứng cứ để chứng minh. Vì vậy, không có cơ sở xác định cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
Cho nên, kháng cáo của anh Nguyễn Thành L, chị Trần Thị N1 và yêu cầu của người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị đơn là không có căn cứ, nên Hội đồng không chấp nhận; sửa bản án sơ thẩm về quan hệ pháp luật tranh chấp và án phí dân sự sơ thẩm.
[4] Án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn anh Nguyễn Thành L và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị N1 phải chịu quy định tại khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[6] Đề nghị của đại diện VKSND tỉnh Bình Định tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 197, Điều 199, Điều 254 Bộ luật dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Q1;
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn anh Nguyễn Thành L và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị N1; sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 257/2024/DS-ST ngày 18/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định về quan hệ pháp luật tranh chấp và án phí dân sự sơ thẩm.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Ngô Đình K.
-
Buộc anh Nguyễn Thành L, chị Trần Thị N1 có nghĩa vụ giao lại cho anh Ngô Đình K, diện tích 43,745 m² có tứ cận: Đông giáp mép đường L - L; Tây giáp nhà, đất anh L; Nam giáp lối đi anh K giao cho anh L, chị N1; Bắc giáp đất anh K theo bản vẽ đo đạt ngày 16.11.2023.
-
Anh Ngô Đình K có nghĩa vụ giao cho anh Nguyễn Thành L, chị Trần Thị N1 số tiền 36.972.000đồng (tiền xây dựng nhà tạm làm quán); anh L, chị N1 được nhận số tiền 36.972.000đồng anh K giao.
-
Anh Ngô Đình K có nghĩa vụ giao cho anh Nguyễn Thành L, chị Trần Thị N1 diện tích sử dụng làm lối đi riêng 19,455m² (rộng 1,5 m x dài 12,97m) có tứ cận: Đông giáp mép đường L - L; Tây giáp nhà, đất anh L; Nam giáp nhà anh N2; Bắc giáp đất anh K(diện tích 43,745 m² anh L chị N1 giao).
Anh Nguyễn Thành L, chị Trần Thị N1 có nghĩa vụ giao cho anh Ngô Đình K số tiền 2.879.000 đồng (giá trị đất làm lối đi); anh K được nhận số tiền 2.879.000đồng anh L, chị N1 giao.
-
Về chi chí xem xét tại chổ, thẩm định giá, đo đạt: Anh Ngô Đình K đã ứng 20.000.000đồng, anh K chịu 10.000.000đồng được trừ vào tiền tạm ứng trước đây, anh K đã thanh toán xong. Anh Nguyễn Thành L chịu 10.000.000đồng, có nghĩa vụ hoàn lại cho anh Ngô Đình K số tiền 10.000.000đồng.
-
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn anh Nguyễn Thành L phải chịu 300.000 đồng về tranh chấp quyền sử dụng đất và 1.704.600 đồng giá trị tài sản được hưởng. H lại cho anh Ngô Đình K 300.000đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0003589 ngày 28.3.2022 của Cơ quan thi hành án dân sự thành phố Q.
-
Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn anh Nguyễn Thành L và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị N1 mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí anh L, chị N1 đã nộp theo các biên lai số: 0000503 và 0000504 ngày 10/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn.
-
Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
-
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Hiệp |
Bản án số 26/2025/DS-PT ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 26/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Quyền sử dụng đất
