Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2025/DS-PT

Ngày: 16/6/2025

V/v “Tranh chấp hợp đồng

vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Ngọc Minh

Các Thẩm phán: Bà Đậu Thị Quy và ông Lý Thơ Hiền

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Lê Trúc Uyên – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Lê Hồng Văn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ dân sự lý số 12/2025/TLPT-DS ngày 19 tháng 3 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 01/2025/DS-ST ngày 13/01/2025 của Toà án nhân dân thị xã Đông Hoà bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2025/QĐ-PT ngày 25 tháng 3 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 55A/QĐ-PT ngày 10/4/2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Phí Thị H – sinh năm 1972 và ông Đỗ Văn T – sinh năm 1969; Địa chỉ: khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
  2. Bị đơn: Ông Lương Bá V - sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị T1 – sinh năm 1961; Địa chỉ: khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Ông V có mặt, bà T1 vắng mặt.
  3. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Lương Bá V: Luật sư Trần Văn X – Đoàn luật sư tỉnh P. Có mặt.
  4. Người làm chứng:
    • - Ông Lương Bá V1, sinh năm 1985
    • - Ông Lương Bá V2, sinh năm 1990
    • - Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1974

Cùng trú tại: Khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên.

Những người làm chứng đều vắng mặt.

  1. Người kháng cáo: Ông Lương Bá V - sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị T1 – sinh năm 1961; Địa chỉ: khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 05/11/2023, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn bà Phí Thị H, ông Đỗ Văn T trình bày:

Nguyên từ những năm 2018, 2019, vợ chồng ông V, bà T1 có 02 lần vay tiền của vợ chồng bà không viết giấy, mỗi lần vay 50.000.000đ, lãi suất thỏa thuận 5%/năm, đã trả lãi đầy đủ nhưng chưa trả nợ gốc. Đến ngày 20/12/2020 vợ chồng bà yêu cầu bà T1 viết giấy mượn tiền làm chứng từ, số tiền vay 100.000.000đ từ số nợ cũ của năm 2018-2019.

Cùng ngày 20/12/2020, buổi sáng bà T1 đến vay số tiền 40.000.000đ để về làm sổ đỏ, buổi tối tiếp tục đến vay thêm 30.000.000đ vì bà nói chưa đủ để trả cho người ta. Ông, bà đã yêu cầu viết chung vào giấy mượn tổng số tiền 170.000.000₫ nhưng bà T1 nói rằng viết riêng từng giấy để dễ trả lãi, do đó đã viết riêng thêm 02 giấy mượn tiền cùng ngày 20/12/2020, một giấy 40.000.000đ, một giấy 30.000.000đ. Cả 03 giấy mượn tiền đều do ông T viết, bà T1 trực tiếp ký tên, vì ông V đi biển không có nhà nên không ký tên nhưng tất cả các lần mượn tiền ông V đều có gọi điện thoại cho bà H nên vợ chồng bà mới đưa tiền cho bà T1. Từ sau khi viết giấy đến tháng 4/2021 bà T1 trả lãi đầy đủ, mỗi tháng 8.500.000đ/170.000.000đ nợ gốc.

Đến ngày 28/4/2021, bà T1 đến nhà hỏi vay tiếp số tiền 100.000.000đ, nói rằng con trai bị đổ nợ giang hồ đến nhà tạt sơn, hăm dọa. Vì vợ chồng bà T1 trả lãi đầy đủ, và đang có đất nhờ bà H bán nên vợ chồng bà đồng ý cho vay thêm 100.000.000đ, có viết giấy ngày 28/4/2021, tuy nhiên do nhầm lẫn với các giấy trước đó nên có sự sửa chữa các con số trong mục “từ ngày, tháng ... đến ngày, tháng”, còn lại nội dung, số tiền và ngày vay mượn đều không có sửa chữa, đã được bà T1 đọc và ký tên. Sau đó, bà T1 đã trả lãi 3 tháng, mỗi tháng 13.000.000đ/270.000.000₫ nợ gốc, tổng cộng là 39.000.000đ, từ tháng 8/2021 bà T1 không trả lãi nữa và hai bên phát sinh tranh chấp.

Đối với số tiền 39.000.000đ (ba mươi chín triệu đồng) bà T1 trả lãi, trong đó có 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng) do bà Trần Thị Mỹ P (B) nhờ bà đưa cho bà T1, sau đó bà T1 trả lãi cho bà 13.000.000đ (mười ba triệu đồng), còn lại 02 lần trả lãi 13.000.000đ (mười ba triệu đồng) đều do bà T1 trực tiếp trả tiền cho bà.

Nay ông bà thống nhất trừ số tiền 39.000.000₫ này vào khoản vay gốc 100.000.000đ ngày 28/4/2021, như vậy còn lại nợ gốc tổng cộng 231.000.000đ, nợ lãi yêu cầu trả theo lãi suất 12,9%/năm, cụ thể 170.000.000₫ vay ngày 20/12/2020 đến ngày 08/8/2024: 1.327 ngày x 170.000.000₫ x 12,9%/năm = 79.729.000 đồng; số tiền 100.000.000 đồng, đã trả 39.000.000 đồng còn lại 61.000.000 đồng từ ngày 28/4/2021 đến ngày 08/8/2024: 1.199 ngày x 61.000.000₫ x 12,9%/năm = 25.849.126 đồng, tổng cộng tiền lãi 105.578.126 đồng.

* Bị đơn bà Nguyễn Thị T1, ông Lương Bá V thống nhất trình bày: Khoảng tháng 5 năm 2020 vợ chồng bà có hỏi vay bà H, ông T số tiền 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng) để trả nợ xây nhà cho con. Ông V gọi điện hỏi bà H đồng ý nên bà T1 trực tiếp đến lấy tiền, hai bên không viết giấy tờ, bà H nói khi nào trả nợ thì tính tiền lãi trả sau.

Khoảng 02 tháng sau, tầm tháng 7/2020, chồng bà gọi điện hỏi bà H vay thêm 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng), cũng thỏa thuận khi nào trả nợ sẽ tính tiền lãi và không viết giấy tờ gì.

Đến tháng 09/2020, vợ chồng bà đến nhà bà H vay thêm 100.000.000đ (một trăm triệu đồng), bà H yêu cầu đem theo CMND của hai vợ chồng và ông V viết giấy vay tiền, cam kết khi nào vay được tiền ở Ngân hàng thì trả dứt điểm nợ cho bà H, ông T.

Như vậy đến tháng 09/2020 vợ chồng bà có vay của bà H, ông T tổng cộng 170.000.000đ (một trăm bảy mươi triệu đồng), chưa trả tiền lãi.

Đúng 03 tháng 10 ngày sau tức là tháng 12/2020, con trai bà là Lương Bá V1 vay được tiền Ngân hàng nên bà đến trả cho bà H 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng), trong đó nợ gốc 170.000.000đ (một trăm bảy mươi triệu đồng) và 30.000.000₫ (ba mươi triệu đồng) nợ lãi. Vợ chồng bà lấy lại Giấy mượn tiền 100.000.000₫ do ông V tự viết đem về xé bỏ, còn số nợ 70.000.000đ không có giấy tờ nên trả nợ xong không có chứng từ gì.

Đến tháng 4/2021, bà H, ông T tới nhà ông bà đòi trả thêm tiền lãi, vì cho rằng tiền lãi tính bạc 20 nên phải trả thêm 80.000.000đ. Vợ chồng bà vay mượn bên ngoài thêm 39.000.000đ trả cho bà H, số tiền này bà H lấy của bà B (không nhớ rõ họ tên) 15.000.000đ, lấy của bà P1 (không nhớ họ tên) 10.000.000đ, bà T1 lấy của bà D 14.000.000đ đưa bà H, tổng cộng 39.000.000đ để trả lãi cho bà H. Tuy nhiên bà H vẫn không đồng ý nên mới khởi kiện ra tòa. Nay bà xác định đã trả hết nợ gốc cho bà H, còn tiền lãi không trả nữa vì không có khả năng.

Đối với các giấy nợ bà H nộp tại tòa, trong giai đoạn hòa giải, bà T1 cho rằng đúng là do bà ký sau khi đã trả bà H số tiền 200.000.000₫ vào tháng 12/2020, bà H đưa giấy mượn tiền bảo bà ký nhưng không ghi nội dung, bà không biết mục đích ký làm gì nhưng do tin tưởng bà H nên bà ký theo yêu cầu, không biết trong giấy đó ghi số tiền bao nhiêu, thời gian nào.

Ngày 30/7/2024 vợ chồng bà đã yêu cầu ngừng phiên tòa để làm thủ tục giám định chữ ký và giao nộp hồ sơ vay vốn của con trai bà là Lương Bá V1 tại Ngân hàng L. Đến ngày 16/12/2024 ông V xác định không yêu cầu giám định chữ ký vì hoàn cảnh kinh tế khó khăn, đồng thời không liên hệ được với Ngân hàng L để cung cấp tài liệu chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án.

* Người làm chứng bà Nguyễn Thị H1 trình bày: Bà là hàng xóm, ở kế bên nhà vợ chồng bà T1, ông V. Vào năm 2023, bà không nhớ cụ thể thời gian nào, bà đang ở nhà thì nghe có tiếng tranh cãi nhà bà T1, sau đó Lương Bá V2 đang cãi nhau với vợ chồng bà H, V2 hỏi bà H “có nhận 200.000.000₫ mẹ tui trả cho bà không”, bà

H trả lời “có”. Lúc đó V2 có bảo bà làm chứng nội dung này nên bà nhớ chứ bà không trực tiếp thấy việc trả tiền giữa bà T1 và bà H. Hiện nay bà đang bệnh nên không thể đến Tòa thường xuyên, xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và xin giữ nguyên lời khai hôm nay.

* Người làm chứng ông Lương Bá V1 trình bày: ông là con trai của ông V, bà T1. Năm 2021 cha mẹ không vay Ngân hàng được vì có nợ xấu nên ông có đứng ra vay của Ngân hàng L số tiền 500.000.000đ để đưa cha mẹ trả nợ, tuy nhiên ông không biết trả cho ai, số tiền bao nhiêu vì không ở chung nhà. Đến ngày 27/10/2023, vợ chồng bà H tới nhà cha mẹ đòi nợ, quậy phá nên cha ông có điện thoại kêu ông về nhà. Bà H xác nhận là đã nhận được số tiền 200.000.000₫ mẹ ông trả nợ, nhưng chưa đủ nên nay tiếp tục tới đòi. Do đó nay ông làm chứng về việc bà H nói đã nhận được 200.000.000đ của bà T1 trả nợ, lúc đó có bà H1 là hàng xóm cũng nghe thấy; ông thống nhất ý kiến của cha mẹ, không đồng ý toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Vì bận làm ăn nên ông xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án sau này.

* Người làm chứng ông Lương Bá V2 trình bày: ông là con trai của ông V, bà T1. Khi vợ chồng bà H tới nhà đòi nợ cha mẹ, ông trực tiếp hỏi bà H có nhận số tiền 200.000.000đ cha mẹ trả nợ chưa, bà H nói nhận rồi, lúc này có bà H1 là người hàng xóm làm chứng, ngoài ra ông không chứng kiến sự việc gì khác.

* Tại phiên tòa sơ thẩm:

  • - Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ gốc 231.000.000đ (hai trăm ba mươi mốt triệu đồng), rút yêu cầu trả lãi số tiền 105.578.126đ (một trăm lẻ năm triệu năm trăm bảy mươi tám nghìn một trăm hai mươi sáu đồng).
  • - Bị đơn không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông V, bà T1 đề nghị HĐXX không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì trong cùng ngày 20/12/2020 nguyên đơn cho vay số tiền 170.000.000₫ mà viết thành 03 giấy nợ theo mẫu của nguyên đơn; số tiền cho vay tổng cộng 270.000.000đ nhưng chỉ một mình bà T1 ký trong các giấy vay tiền, không có xác nhận của ông V, không có tài sản thế chấp là vô lý; đồng thời việc bà T1, ông V trả số tiền 200.000.000đ đã được người làm chứng xác nhận nên đề nghị ghi nhận.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 01/2025/DS-ST ngày 13/01/2025 của Toà án nhân dân thị xã Đông Hoà đã quyết định:

Căn cứ Điều 5, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 12, 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ các Điều 357, 463, 466, 468, 469, 470 Bộ luật dân sự năm 2015.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phí Thị H, ông Đỗ Văn T, buộc bị đơn ông Lương Bá V, bà Nguyễn Thị T1 phải trả số tiền nợ gốc 231.000.000₫ (hai trăm ba mươi mốt triệu đồng) về khoản vay tài sản.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chậm trả, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 16/01/2025, bị đơn ông Lương Bá V và bà Nguyễn Thị T1 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn nộp đơn xin trình bày yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ gốc là 231.000.000đ và tiền lãi là 96.096.000đ nhưng sau đó rút yêu cầu trả lãi, chỉ yêu cầu trả nợ gốc số tiền 231.000.000đ và yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm.

- Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo

- Đại diện Viện kiểm sát nhân trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm của Thẩm phán, HĐXX, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định pháp luật tố tụng.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật dân sự không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến các bên đương sự, kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn thuộc trường hợp được miễn án phí và có đơn kháng cáo trong hạn luật định là kháng cáo hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về phạm vi xét xử phúc thẩm: Ông V, bà T1 kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm. Căn cứ phạm vi xét xử phúc thẩm quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm xem xét nội dung vụ án có liên quan đến kháng cáo.

[3] Về nội dung yêu cầu kháng cáo:

[3.1] Xét kháng cáo của ông Lương Bá V và bà Nguyễn Thị T1, HĐXX nhận thấy: Nguyên đơn khởi kiện và trình bày giữa nguyên đơn và bị đơn xác lập các hợp đồng vay cụ thể: 03 giấy mượn tiền ngày 20/12/2020 với các số tiền lần lượt là 100.000.000 đồng (số nợ cũ của năm 2018-2019), 40.000.000 đồng, 30.000.000 đồng; giấy mượn tiền ngày 28/4/2021 với số tiền 100.000.000 đồng, tổng cộng vay số tiền 270.000.000 đồng. Nguyên đơn cung cấp cho tòa bản gốc các giấy nợ nêu trên có chữ ký của bà Nguyễn Thị T1.

Bị đơn ông Lương Bá V và bà Nguyễn Thị T1 trình bày chỉ vay tiền của nguyên đơn 03 lần cụ thể tháng 3/2020 vay số tiền 30.000.000 đồng, tháng 7/2020 vay 40.000.000 đồng, tháng 9/2020 vay 100.000.000 đồng. Tổng cộng 170.000.000 đồng. Cả 03 lần vay chỉ có lần vay 100.000.000 đồng vào tháng 9/2020 có viết giấy và do ông V trực tiếp viết, còn các lần trước đều không có giấy tờ gì. Tuy nhiên bị

đơn không cung cấp được cho Tòa án giấy vay nợ 100.000.000₫ do ông V viết như lời trình bày của bị đơn mà chỉ nộp cho tòa bản photo 03 Giấy mượn tiền ngày 20/12/2020 (170.000.000đ) và 01 Giấy mượn tiền ngày 28/4/2021 (100.000.000₫).

Các giấy vay tiền đều thể hiện thời hạn trả nợ nhưng không thể hiện lãi suất cho vay. Tuy nhiên cả nguyên đơn đều bị đơn đều xác định số tiền 39.000.000 đồng bị đơn trả cho nguyên đơn là tiền lãi cho khoản vay. Do đó xác định đây là hợp đồng vay có kỳ hạn và có lãi. Tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn đồng ý trừ số tiền 39.000.000 đồng vào số nợ gốc 270.000.000 đồng và rút yêu cầu trả lãi nên chỉ yêu cầu bị đơn trả số tiền gốc là 231.000.000 đồng.

[3.2] Bị đơn trình bày sau khi vay nợ các lần, bị đơn đã trả toàn bộ số nợ cho nguyên đơn với số tiền 200.000.000 đồng và trả lãi thêm cho nguyên đơn 39.000.000 đồng, tổng cộng đã trả 239.000.000 đồng. Tại cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn không cung cấp được các tài liệu, chứng cứ gì thể hiện việc bị đơn đã trả cho nguyên đơn số tiền 239.000.000 đồng.

[3.3] Các chữ ký và chữ viết tại 03 Giấy mượn tiền ngày 20/12/2020 và 01 Giấy mượn tiền ngày 28/4/2021 theo bà T1 là do ông Tân giả chữ ký của bà chứ không phải chữ ký, chữ viết do bà ký, viết ra. Cấp phúc thẩm đã tiến hành trưng cầu giám định chữ ký chữ viết trong 04 giấy mượn tiền theo yêu cầu của bị đơn. Tại Bản kết luận giám định số 375/KL-KTHS ngày 02/6/2025 của Phòng K Công an tỉnh P kết luận Chữ ký “Thịnh” và chữ viết “Nguyễn Thị T1” tại 03 Giấy mượn tiền ngày 20/12/2020 và 01 Giấy mượn tiền ngày 28/4/2021 so với các mẫu so sánh là do cùng 01 người ký, viết ra. Do đó có cơ sở xác định các chữ ký, chữ viết tại các chữ ký, chữ viết tại 04 Giấy mượn tiền là của bà Nguyễn Thị T1.

[3.4] Các giấy mượn tiền đều không có chữ ký của ông Lương Bá V, tại cấp sơ thẩm ông V đều thừa nhận tất cả các lần đi vay mượn tiền của nguyên đơn ông đều gọi điện trước cho nguyên đơn để hỏi và sau đó bà T1 mới đến gặp nguyên đơn để nhận tiền. Việc bà T1 vay tiền của nguyên đơn được thể hiện tại 04 mượn tiền đã được HĐXX nhận định như trên. Do đó cấp sơ thẩm buộc ông V, bà T1 cùng trả số nợ nêu trên là có căn cứ.

[3.5] Mặc dù giấy mượn tiền ngày 28/4/2021 có sửa chữa nội dung về thời hạn vay “Từ ngày...đến ngày...” Tuy nhiên ngày viết giấy là ngày 28/4/2021, số tiền vay 100.000.000 đồng và các nội dung khác không sửa chữa, giấy vay tiền có chữ ký xác nhận của bà Nguyễn Thị T1. Do đó xác định giấy mượn tiền này vẫn có giá trị thể hiện việc bị đơn có vay khoản tiền 100.000.000 đồng của nguyên đơn.

[3.6] Đối với các nhân chứng bà H1, ông V1 nghe thấy việc bà H nói rằng đã nhận 200.000.000 đồng từ ông V, bà T1, tuy nhiên các nhân chưng chỉ nghe chứ không tận mắt chứng kiến việc giao nhận số tiền 200.000.000 đồng giữa nguyên đơn và bị đơn nên lời trình bày của các nhân chứng không có giá trị chứng minh.

[4] Xét thấy bà Nguyễn Thị T1 và ông Lương Bá V kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm nhưng không đưa ra được các tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho việc kháng cáo của mình là có cơ sở. Ý kiến của kiểm sát viên tại phiên toà phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận. Từ những căn cứ trên, HĐXX phúc thẩm

xét thấy không có căn cứ chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn ông Lương Bá V và bà Nguyễn Thị T1 mà giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[5] Về chi phí giám định: Ông Lương Bá V, bà Nguyễn Thị T2 phải chịu chi phí giám định 9.990.000 đồng, đã nộp đủ.

[6]Về án phí: Ông Lương Bá V, bà Nguyễn Thị T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm do kháng cáo không được chấp nhận. Ông Lương Bá V, bà Nguyễn Thị T1 có đơn xin miễn án phí vì thuộc trường hợp người cao tuổi nên được miễn nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBNTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn;

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2025/DS-ST ngày 13/01/2025 của Toà án nhân dân thị xã Đông Hoà, tỉnh Phú Yên.

Áp dụng các Điều 26, 35, 39, 147, 148, 161 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 357, 463, 466, 468, 469, 470 Bộ luật dân sự; Điều 12, 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đỗ Văn T, bà Phí Thị H.
  2. Buộc vợ chồng ông Lương Bá V, bà Nguyễn Thị T1 trả cho nguyên đơn số tiền nợ gốc là 231.000.000 đồng (Hai trăm ba mươi mốt triệu đồng).

Trường hợp bản án có hiệu lực pháp luật, người có quyền có đơn yêu cầu thi hành án mà người có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ của mình thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được thực hiện theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.

  1. Về chi phí giám định: Ông Lương Bá V, bà Nguyễn Thị T2 phải chịu chi phí giám định 9.990.000 đồng (Chín triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng), đã nộp đủ.
  2. Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm cho bị đơn ông Lương Bá V, bà Nguyễn Thị T1. Hoàn trả cho nguyên đơn bà Phí Thị H, ông Đỗ Văn T số tiền 8.875.000đ (Tám triệu tám trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011271 ngày 05 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đông Hòa.
  3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án

hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  1. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại Đà Nẵng;
  • - TAND thị xã Đông Hoà;
  • - Đương sự;
  • - Chi cục THADS thị xã Đông Hoà;
  • - P.TTNV&THA;
  • - VKSND tỉnh Phú Yên;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Ngọc Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2025/DS-PT ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 26/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Văn T, Phí Thị H - Lương Bá V, Nguyễn Thị T "vay tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger