Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2025/DS-PT

Ngày 13 - 3 - 2025

Tranh chấp đòi bồi thường ngoài

hợp đồng

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Vĩnh Thành.
  • Các Thẩm phán: Bà Bùi Thị Đoan Trang;
  • Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.
  • Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Linh Chi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
  • Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 205/2024/TLPT-DS ngày 24 tháng 12 năm 2024 về “Tranh chấp đòi bồi thường ngoài hợp đồng”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 54/2024/DS-ST ngày 17 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 70/2025/QĐ-PT ngày 24/02/2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn:
    • - Cháu Đỗ Công H, sinh năm 2007.
    • - Ông Đỗ Công C, sinh năm 1968 (là bố của cháu H. Đồng thời là người đại diện hợp pháp của cháu H.
    • Đều có địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.
    • Người đại diện theo ủy quyền của cháu H, ông C: Bà Văn Thị Thanh H1 - Luật sư Công ty L1 - Thuộc Đoàn luật sư tỉnh V (Theo Giấy ủy quyền ngày 26/02/2024 của cháu Đỗ Công H và ông Đỗ Công C).
    • Địa chỉ: Số A đường N, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; (có mặt).
  2. Bị đơn: Cháu Nguyễn Lê V, sinh năm 2007. Địa chỉ: Thôn Hòa Lạc, xã Tân Phú, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc
  3. Người đại diện hợp pháp của cháu V, đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Phan A, sinh năm 1980, bà Lê Thị C1, sinh năm 1982 (là bố và mẹ của cháu V). Đều có địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Người đại diện theo ủy quyền của ông A, bà C1: Ông Nguyễn Tiến V, sinh năm 1985 (Theo Giấy ủy quyền ngày 06/8/2025 của ông Nguyễn Phan A).
    • Địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.
  4. Người kháng cáo: Ông Nguyễn Tiến V - đại diện bị đơn.
  5. Viện kiểm sát kháng nghị: Không.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 27/11/2023 và các lời khai tiếp theo tại phiên toà đại diện nguyên đơn là bà Văn Thị Thanh H1 trình bày:

Sáng ngày 18/03/2023 khi cháu Đỗ Công H, sinh ngày 20/12/2007 là học sinh lớp 10A4 đang chơi tại sân trường Cao đẳng K thì bị bạn học cùng trường là Nguyễn Lê V học lớp 10I dùng cục đất đá ném vào mắt phải của cháu H làm cho cháu H choáng váng và ngất đi. Sau khi sự việc xảy ra H được giáo viên nhà trường đưa đi bệnh viện để cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Lạc Việt tỉnh V từ ngày 18/3/2023 đến ngày 19/3/2023 do vết thương khá nặng làm cho H đau nhức buộc bố mẹ H phải đưa H đi điều trị tại Bệnh viện M tại thành phố Hà Nội. Tại đây bác sỹ chuẩn đoán mắt của H bị "Chấn thương đụng dập nhãn cầu và tổ chức hốc mắt". Sau đó do vết thương bị rách quá sâu ở “Lỗ hoàng điểm” của mắt không thể hồi phục được nên ngày 27/6/2023 bố mẹ H phải đưa cháu H đến Bệnh viện M tại thành phố Hà Nội để phẫu thuật “Cắt dịch kính - Lỗ hoàng điểm”. Hiện nay mắt của H bị ảnh hưởng nghiêm trọng thị lực kém, không nhìn rõ, hàng ngày H vẫn phải dùng thuốc và đi kiểm tra mắt định kỳ theo chỉ định của bác sỹ.

Từ ngày H bị "Chấn thương đụng dập nhãn cầu và tổ chức hốc mắt" đến nay, mắt phải của H hiện không nhìn thấy gì, bố mẹ H đã phải đưa H đi khám chữa ở nhiều bệnh viện khác nhau để tìm cơ hội chữa mắt nhưng không có kết quả. Sự việc xảy ra đã được Công an thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc điều tra xác minh và đưa H đi giám định thương tích, ngày 04/10/2023 Công an thành phố V ra thông báo kết luận giám định số: 3961/TB - ĐCSHS, trong phần kết luận, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương của cháu H tại thời điểm giám định là: 25% (hai mươi năm phần trăm), sau đó ra thông báo không khởi tố vụ án với lý do “hành vi của V phạm tội nghiêm trọng, khi phạm tội V chưa đủ 16 tuổi nên không phải chịu trách nhiệm hình sự". Nhận thấy hành vi của V gây ra cho H làm cho H bị hỏng một bên mắt đây là thiệt hại vô cùng to lớn, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của H cũng như cơ hội xin việc làm sau này của H. Sự việc xẩy ra gia đình V mới chỉ bồi thường được cho H số tiền là 27.500.000 đồng và hiện nay gia đình V không đến thăm hỏi và cũng không bồi thường thêm khoản tiền nào cho H. Vì vậy để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình cháu Đỗ Công H, ông Đỗ Công C khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết, buộc cháu V, ông A, bà C1 phải liên đới bồi thường cho cháu H với số tiền 152.200.000 đồng (được trừ số tiền do gia đình cháu V đã bồi thường 27.500.000 đồng), số tiền còn lại là 124.700.000 đồng. Bao gồm chi phí khám chữa và điều trị tại bệnh viện H2; Bệnh viện M, Bệnh viện M, Bệnh viện M là 33.000.000 đồng (tự nguyện làm tròn), tiền taxi đi lại trong những lần đi điều trị là 9.600.000 đồng, tiền ngày công lao động của bố mẹ cháu H bị mất trong quá trình đưa cháu H đi khám và đi chữa bệnh là 9.600.000 đồng, tiền thuốc bổ mua ngoài là 10.000.000 đồng, tiền tổn thất về tinh thần là: 90.000.000 đồng. Ngoài ra cháu H, ông C không yêu cầu cháu V, ông A, bà C1 phải bồi thường bất cứ khoản tiền gì khác. Bị đơn, cháu Nguyễn Lê V tuy vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình giải quyết vụ án, đã có lời khai, cháu V trình bày: Cháu V với Đỗ Công H là bạn bè học cùng với nhau. Đối với việc gây thương tích cho H thì là cháu V chỉ vô ý, hôm đó cháu V cầm cục đất để ném đùa với bạn là Nguyễn Thành T nhưng lại trúng vào H. Tại Bệnh viện L khi H vào viện thì cháu V cũng vào cùng với bố cháu V, bố cháu V có đưa cho bố mẹ của H với số tiền 5.500.000 đồng, sau đó đưa thêm bao nhiêu nữa thì cháu V không nắm được. Hiện cháu V đang đi xin việc nhưng chưa xin được, vẫn phải sống phụ thuộc vào bố mẹ, cháu V không có bất cứ tài sản gì thuộc quyền sở hữu hay sử dụng hợp pháp của mình. Nay đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cháu V chỉ đồng ý bồi thường các khoản hợp lý theo quy định của pháp luật. Do không có tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp nên cháu V đề nghị bố mẹ cháu V bồi thường thay cho cháu (lời trình bày của cháu V đã được xác nhận của người đại diện hợp pháp của cháu V là ông Nguyễn Phan A). Người đại diện theo ủy quyền của ông A, bà C1 (ông Nguyễn Tiến V) trình bày: Ông thừa nhận việc cháu V đã gây thương tích cho cháu H. Tuy nhiên mức bồi thường do người đại diện theo ủy quyền của cháu H, ông C đưa ra là quá cao, nhiều khoản yêu cầu không hợp lý nên không đồng ý bồi thường theo yêu cầu của nguyên đơn. Ông chỉ chấp nhận tiền mất thu nhập của ông C, bà L với số tiền là 700.000 đồng (cho cả 02 người). Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 54/2024/DS-ST ngày 17 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc đã quyết định: - Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của cháu Đỗ Công H và ông Đỗ Công C.- Buộc cháu Nguyễn Lê Như Ý, ông Nguyễn Phan A và bà Lê Thị C1 phải liên đới bồi thường cho cháu Đỗ Công H tổng số tiền 91.300.000₫ (chín mươi mốt triệu ba trăm nghìn đồng). Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, cháu H (hoặc người đại diện hợp pháp của cháu H) có đơn yêu cầu thi hành án nếu cháu V, ông A, bà C1 không thanh toán trả cho cháu H khoản tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự. - Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự. Ngày 30/9/2024 anh Nguyễn Tiến V là đại diện của bị đơn kháng cáo bản án sơ thẩm. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm mức bồi thường. Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, đại diện bị đơn không rút kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc phát biểu quan điểm:- Về việc tuân thủ pháp luật tố tụng: Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, Thẩm phán và các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa phúc thẩm. - Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và đại diện của bị đơn, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 54/2024/DS-ST ngày 17 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Đơn kháng cáo của đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và đại diện hợp pháp của bị đơn làm trong thời hạn luật định, đã nộp tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm do đó được Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
  2. Về nội dung kháng cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

    Thực tế cháu V gây thương tích vào một mắt của cháu H, tổn hại sức khỏe của cháu H 25%.

    Sau khi bị thương tích ra cháu H được gia đình đưa đi khám và điều trị tại Bệnh viện L 02 ngày (18, 19/3/2023); tại Bệnh viện Mắt Trung ương thành phố M (từ ngày 19/3/2023, 20/3/2023). Tại Bệnh viện Đông Đô thành phố M 02 ngày (từ 27/6/2023 – 28/6/2023); khám tại Bệnh viện M.

    Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét cụ thể các khoản chi phí, cụ thể:

    • - Đối với chi phí khám điều trị thương tích của cháu H: Căn cứ vào các hóa đơn do cháu H cung cấp và do Tòa án thu thập được xác định phí khám chữa bệnh của cháu H tại bệnh viện H (có hóa đơn); tại bệnh viện M (có hóa đơn); tại Bệnh viện M (có hóa đơn); tại Bệnh viện M. Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu cháu V, ông A, bà C1 phải bồi thường với số tiền 33.000.000 đồng (tự làm tròn). Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án toàn bộ các chi phí trên là 33.268.327 đồng (trong đó chi phí điều trị tại Bệnh viện L là 1.438.627 đồng; Bệnh viện M là 26.728.000 đồng; Bệnh viện M 5.063.000 đồng; Bệnh viện M Hà Nội 38.700 đồng). Tuy nhiên tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn chỉ yêu cầu số tiền 33.000.000 đồng, do đương sự tự nguyện chỉ yêu cầu số tiền trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
    • - Đối với khoản tiền thuốc bổ mua ngoài là 10.000.000 đồng (không theo phác đồ điều trị của Bệnh viện) mặc dù cháu H và gia đình không có hóa đơn nhưng xét thấy việc cháu H bị thương nên phải mua thuốc bổ để phục hồi sức khỏe là phù hợp. Tuy nhiên, mức tiền mua thuốc bổ mà cháu H và gia đình yêu cầu như nêu trên là cao, chưa phù hợp nên chỉ chấp nhận một phần yêu cầu của cháu H. Buộc cháu V và người đại diện phải bồi thường chi phí mua thuốc bổ cho cháu H số tiền 5.000.000 đồng.
    • - Đối với chi phí thu nhập người chăm sóc bị mất: Cháu H điều trị tại Bệnh viện L 02 ngày từ ngày 18/3/2023 đến 19/3/2023; khám tại Bệnh viện M các ngày 19/3/2023, 20/3/2023, 24/3/2023, 18/4/2023 và 25/9/2023; khám và điều trị tại Bệnh viện M vào các ngày 27/6/2023, 28/6/2023 và 25/7/2023; khám tại Bệnh viện M ngày 26/6/2023. Tổng 10 ngày cháu H phải đi khám và điều trị tại các bệnh viện nêu trên. Trong quá trình này có bố và mẹ cháu H là ông C, bà L chăm sóc. Tuy nhiên, với tình trạng thương tích của cháu H chỉ được tính 01 người chăm sóc. Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do đương sự cung cấp xác định thu nhập bình quân 01 ngày của bà L là 300.000 đồng, thu nhập bình quân của ông C là 700.000 đồng. Do không làm rõ được ai là người chăm sóc vào những ngày nào nên mức thu nhập người chăm sóc bị mất tính theo mức trung bình của ông C và bà L là 500.000đồng/ngày x 10 ngày bằng 5.000.000 đồng.
    • - Đối với chi phí đi lại, cháu H phải đi khám chữa bệnh tại Bệnh viện L 01 lượt (đi do cháu V chở, về không về mà xuống Bệnh viện M); Bệnh viện M 04 lần (mỗi lần 02 lượt đi về) vào các ngày 19/3/2023, 24/3/2023, 18/4/2023 và 25/9/2023; Bệnh viện M 02 lần (mỗi lần 02 lượt đi về) vào các ngày 27/6/2023, 25/7/2023; Bệnh viện M 01 lần vào ngày 26/6/2023. Do đó, cần tính chi phí đi lại cho việc khám chữa bệnh của cháu H và người chăm sóc với tổng số lần là 07 lần (gồm: 04 lần đến Bệnh viện M, 02 lần đến Bệnh viện M, 01 lần đến Bệnh viện M; riêng lần đến điều trị tại Bệnh viện L không tính do khi đến thì cháu V chở, khi về thì gia đình đưa cháu xuống Bệnh viện M) với mỗi lần hết số tiền là 800.000 đồng (cả đi, cả về). Tổng 07 lần là 5.600.000 đồng.
    • - Đối với yêu cầu bồi thường về tổn thất tinh thần, theo quy định tại khoản 2 Điều 590 Bộ luật Dân sự thì mức bồi thường cho một người có sức khỏe bị xâm hại không quá 50 tháng lương cơ sở. Căn cứ vào mức độ tổn hại sức khỏe của cháu H cần buộc cháu V phải bồi thường cho cháu H 30 tháng lương cơ sở. Căn cứ theo Nghị định số: 73/2024/NĐ - CP ngày 30/6/2024 của Chính phủ thì mức lương cơ sở hiện tại là 2.340.000 đồng/tháng. Tổng số tiền được xác định là 70.200.000 đồng.

    Như vậy, tổng số tiền bản án sơ thẩm xác định cháu H và gia đình bị thiệt hại do phải điều trị thương tích cho cháu H là 118.800.000 đồng. Do ông A, bà C1 đã bồi thường cho cháu H số tiền 27.500.000 đồng nên cần trừ số tiền này trong tổng số tiền 118.800.000 đồng, số tiền còn lại cháu V phải bồi thường cho cháu H là 91.300.000 đồng, nếu cháu V không đủ tài sản để bồi thường thì bố mẹ cháu là ông A, bà C1 phải bồi thường thay cho cháu theo quy định tại khoản 2 Điều 586 Bộ luật Dân sự.

    Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và đại diện của bị đơn không cung cấp thêm tài liệu, chứng gì mới để chứng minh cho quan điểm kháng cáo của mình. Từ những phân tích trên cho thấy bản án sơ thẩm là có căn cứ và đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

  3. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tại phiên tòa phù hợp với chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc Nguyễn Lê Như Ý phải chịu 4.565.000 đồng. (Bản án sơ thẩm buộc cả ông A, bà C1 phải chịu án phí sơ thẩm là chưa phù hợp pháp luật, Hội đồng xét xử điều chỉnh về án phí dân sự sơ thẩm).
  5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên anh Nguyễn Tiến V là người kháng cáo phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm 300.000 đồng, xác nhận đã nộp theo biên lai thu số 0005125 ngày 10/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Tường .

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: Không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Tiến V (là người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và đại diện của bị đơn), giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 54/2024/DS-ST ngày 17 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc.
  2. Căn cứ vào các Điều 584; 585; khoản 2 Điều 586; 590 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, xử:

    Buộc cháu Nguyễn Lê V phải bồi thường chi phí liên quan điều trị thương tích cho cháu Đỗ Công H 91.300.000₫ (Chín mươi mốt triệu ba trăm nghìn đồng). Nếu Nguyễn Lê Như Ý không có đủ tài sản để bồi thường thì ông Nguyễn Phan A và bà Lê Thị C1 phải liên đới bồi thường thay cho Nguyễn Lê V.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu người phải thi hành án chưa thanh toán đủ khoản tiền nêu trên, thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi theo quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

    Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc Nguyễn Lê V phải chịu 4.565.000₫ (Bốn triệu năm trăm sáu mươi lăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  4. Về án phí dân sự phúc thẩm: anh Nguyễn Tiến V là người kháng cáo phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Xác nhận đã nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005125 ngày 10/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Tường.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường;
  • - Chi cục THADS huyện Vĩnh Tường;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Vĩnh Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2025/DS-PT ngày 13/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về tranh chấp đòi bồi thường ngoài hợp đồng

  • Số bản án: 26/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi bồi thường ngoài hợp đồng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh H và anh V tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe bị xâm phạm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger