|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 26/2025/DS-PT Ngày 07/02/2025 |
“V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quang Tấn
Các Thẩm phán:
Ông Trần Bá Kha
Bà Nguyễn Thị Nhiên
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quốc Sang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Cao Phương Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 232/2024/TLPT-DS ngày 14 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng tín dụng.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 129/2023/DS-ST ngày 15/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 317/2024/QĐ-PT ngày 31 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP K1.
Trụ sở: 40-42-44 Phạm Hồng T, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngọc M – Chức vụ: Tổng Giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Đinh Việt Q – Chức vụ: Giám đốc Phòng Xử lý nợ.
Người được ủy quyền lại: Ông Nguyễn Hữu K – chuyên viên xử lý nợ - Phòng Xử lý nợ (có mặt).
- Bị đơn: Bà Lê Ngọc Y, sinh năm 1959.
Địa chỉ: Khu phố H, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Y: Ông Nguyễn Anh T1, sinh năm 1996. Địa chỉ: 1 L, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ. (có đơn xin vắng mặt).
- Người kháng cáo: Bị đơn bà Lê Ngọc Y
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Quá trình tố tụng và tại phiên tòa, ông Dương Trần H trình bày:
Ngày 29/12/2021, Ngân hàng TMCP K1 và bà Lê Ngọc Y có ký kết Hợp đồng tín dụng từng lần số 1170/21HĐTD/1100-5542 giải ngân cho bà Y vay số tiền 5.100.000.000 đồng, thời hạn vay 144 tháng (từ ngày 31/12/2021 đến ngày 30/12/2024), mục đích vay nhận chuyển nhượng bất động sản, lãi suất 12%/năm áp dụng đối với các khế ước nhận nợ giải ngân trong vòng 03 tháng kể từ ngày ký hợp đồng tín dụng. Kể từ tháng thứ 4 từ ngày giải ngân theo từng khế ước nhận nợ, lãi suất vay sẽ được điều chỉnh 03 tháng/lần và lãi suất điều chỉnh được tính như sau: Lãi suất vay = lãi suất tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn 13 tháng, lãnh lãi cuối kỳ của biểu lãi suất huy động khách hàng cá nhân tại thời điểm thay đổi lãi suất + 4,1%/năm, lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất vay tại thời điểm chuyển nợ quá hạn, lãi suất chậm trả 10%/năm.
Để đảm bảo nợ vay, bà Y và Ngân hàng có ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất số 1170/21/HĐTC-BĐS/1100/5542 ngày 29/12/2021 là quyền sử dụng đất 295m², thửa đất số 187, tờ bản đồ 72 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BO 403694 do UBND huyện P cấp ngày 05/6/2015 đứng tên bà Lê Ngọc Y.
Tính đến hết ngày 15/8/2024, bà Y còn nợ Ngân hàng số tiền 6.636.862.650 đồng (sáu tỷ sáu trăm ba mươi sáu triệu tám trăm sáu mươi hai ngàn sáu trăm năm mươi đồng), gồm tiền nợ gốc 5.100.000.000 đồng và lãi trong hạn 1.286.235.452 đồng, lãi quá hạn 139.048.274 đồng, phạt chậm trả 111.578.924 đồng.
Ông Dương Trần H yêu cầu Tòa án giải quyết:
Ngân hàng TMCP K1 yêu cầu Toà án giải quyết buộc bà Lê Ngọc Y phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng với tổng số tiền tạm tính đến hết ngày 15/8/2024 là 6.636.862.650 đồng (sáu tỷ sáu trăm ba mươi sáu triệu tám trăm sáu mươi hai ngàn sáu trăm năm mươi đồng), gồm tiền nợ gốc 5.100.000.000 đồng và lãi trong hạn 1.286.235.452 đồng, lãi quá hạn 139.048.274 đồng, phạt chậm trả 111.578.924 đồng.
Bà Y tiếp tục phát sinh theo hợp đồng tín dụng kể từ ngày 16/8/2024 cho đến khi bà Y thanh toán dứt điểm nợ vay cho Ngân hàng.
Nếu bà Lê Ngọc Y không thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay ngay cho Ngân hàng thì ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mãi tài sản thế theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất số 1170/21/HĐTC-BĐS/1100/5542 ngày 29/12/2021 được ký giữa bà Lê Ngọc Y với Ngân hàng để thu hồi nợ cho Ngân hàng.
Quá trình tố tụng và tại phiên tòa ông Nguyễn Anh T1 trình bày:
Ông Nguyễn Anh T1 xác nhận lời trình bày của đại diện Ngân hàng TMCP K1 về hợp đồng vay, việc thế chấp tài sản và khoản vay gốc và nợ lãi trong hạn, quá hạn, lãi phạt là đúng.
Tuy nhiên, hiện tại bà Y không có khả năng kinh tế để trả một lần số nợ trên, bà Y đồng ý trả nợ gốc số tiền 5.100.000.000 đồng và yêu cầu Ngân hàng TMCP K1 miễn cho bà Y toàn bộ phần lãi suất trong hạn, quá hạn và lãi phạt chậm trả.
Bản án dân sự sơ thẩm số 129/2024/DS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang đã quyết định:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP K1.
Buộc bà Lê Ngọc Y trả cho Ngân hàng TMCP K1 số tiền 6.636.862.650 đồng (sáu tỷ sáu trăm ba mươi sáu triệu tám trăm sáu mươi hai ngàn sáu trăm năm mươi đồng), gồm tiền nợ gốc 5.100.000.000 đồng và lãi trong hạn 1.286.235.452 đồng, lãi quá hạn 139.048.274 đồng, phạt chậm trả 111.578.924 đồng.
Kể từ ngày 16/8/2024, bà Lê Ngọc Y tiếp tục phát sinh chịu lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng từng lần số 1170/21HĐTD/1100-5542 ngày 29/12/2021 cho đến khi bà Y thanh toán dứt điểm nợ vay cho Ngân hàng.
Nếu bà Lê Ngọc Y không thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay ngay cho Ngân hàng thì ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mãi tài sản thế theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất số 1170/21/HĐTC-BĐS/1100/5542 ngày 29/12/2021 được ký giữa bà Lê Ngọc Y với Ngân hàng để thu hồi nợ cho Ngân hàng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phần án phí, lãi suất chậm trả và báo quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 19/8/2024, bị đơn bà Lê Ngọc Y có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung: Sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận khoản nợ lãi giữa bị đơn và Ngân hàng K1.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn bà Lê Ngọc Y giữ nguyên nội dung kháng cáo. Yêu cầu xin được miễn án phí do là người cao tuổi.
Các đương sự không thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến kết luận vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử phúc thẩm và các đương sự từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm nghị án đã thực hiện và chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Y áp dụng khoản 2 Điều 308 BLTTDS sửa bản án sơ thẩm số 129/2024/DS-ST ngày 15/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc theo hướng miễn án phí cho bị đơn là người cao tuổi.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Lê Ngọc Y nộp trong hạn luật định và nộp tiền án phí đúng thời hạn theo quy định tại Điều 273 và Điều 276 Bộ luật tố tụng dân sự nên được chấp thuận giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
Đối với kháng cáo tranh chấp hợp đồng tín dụng giửa Ngân hàng và các bị đơn Tòa sơ thẩm buộc bị đơn trả tiền vay gốc, và lãi cho Ngân hàng, bị đơn yêu cầu không tính lãi, do hoàn cảnh gia đình khó khăn và bản thân trên 65 tuổi nên khả năng lao động cũng không còn, chỉ đồng ý trả nợ gốc, không đồng ý trả lãi.
Xét Hợp đồng tín dụng từng lần giữa bà Lê Ngọc Y với Ngân hàng K1 số: 1170/21HD8TD/1100-5542 để vay số tiền 5.100.000.000 đồng, nhận chuyển nhượng bất động sản, thời hạn vay 144 tháng. Tính đến hết ngày 15/8/2024, bà Y còn nợ Ngân hàng số tiền 6.636.862.650 đồng (sáu tỷ sáu trăm ba mươi sáu triệu tám trăm sáu mươi hai ngàn sáu trăm năm mươi đồng), gồm tiền nợ gốc 5.100.000.000 đồng và lãi trong hạn 1.286.235.452 đồng, lãi quá hạn 139.048.274 đồng, phạt chậm trả 111.578.924 đồng. Tại khoản 01, Điều 3; Điều 8 của hợp đồng thì các bên có thỏa thuận về thời hạn trả nợ và lãi suất nếu không trả đúng hạn thì chuyển qua nợ quá hạn, nên khi bà Y, tới hạn không thanh toán thì sẽ bị chuyển qua nợ quá hạn và phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán tới khi trã xong các khoản nợ vay. Mặc khác theo hướng dẫn của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 tại khoản 2 Điều 7 và điểm b khoản 1 Điều 8, khoản 2 Điều 12 hướng dẫn đối với hợp đồng tín dụng thì lãi suất và thời hạn phải căn cứ theo hợp đồng giải quyết. Tại biên bản làm việc của Ngân hàng với bà Y ngày 17/12/2022 về xử lý nợ vay bà Y đồng ý đến ngày 24/12/2022, trả lãi gốc và lãi trễ hạn cho Ngân hàng số tiền 312.000.000 đồng, nhưng đến hạn bà Y không thực hiện. Do vậy cấp sơ thẩm căn cứ vào quy định của Bộ luật dân sự và các quy định hướng dẫn trên để giải quyết buộc bà Y trả gốc và lãi là có căn cứ.
Tại phiên Tòa phúc thẩm hôm nay bà Y kháng cáo yêu cầu sửa án sơ thẩm theo hướng không tính lãi suất, nhưng bà Y không đưa ra một căn cứ, chứng lý nào khác để bảo vệ cho mình nên Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bà Y.
Do vậy qua thảo luận nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận quan điểm đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang, không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Ngọc Y.
Về phần lãi: Sửa bản án sơ thẩm dân sự sơ thẩm số: 129/20234DS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
Về phần án phí: Do bà Y là người cao tuổi có đơn xin miễn án phí. Thuộc trường hợp được miễn án phí, cấp sơ thẩm không có lỗi.
[3]. Về án phí:
Án phí dân sự sơ thẩm: Do bà Y là người cao tuổi không phải chịu án phí sơ thẩm.
Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Lê Ngọc Y không phải chịu án phí phúc thẩm do sửa án sơ thẩm. Trả lại án phí dân sự phúc thẩm cho bà theo biên lai tạm ứng số 0006511, ngày 04/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 228; Điều 266 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Áp dụng : Điều 149, 157, 429 Bộ luật dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 91; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận một phần nội dung kháng cáo của bà Lê Ngọc Y
- Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 129/2024/DS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
Phần tuyên xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP K1.
Buộc bà Lê Ngọc Y trả cho Ngân hàng TMCP K1 số tiền 6.636.862.650 đồng (sáu tỷ sáu trăm ba mươi sáu triệu tám trăm sáu mươi hai ngàn sáu trăm năm mươi đồng), gồm tiền nợ gốc 5.100.000.000 đồng và lãi trong hạn 1.286.235.452 đồng, lãi quá hạn 139.048.274 đồng, phạt chậm trả 111.578.924 đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm trả số tiền nêu trên, thì người phải thi hành án còn phải trả cho người được thi hành án số tiền lãi theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng số: 1170/21HĐTD/1100-5542 ngày 29/12/2021 tương ứng với số tiền nợ gốc và thời gian chưa thanh toán.
Nếu bà Lê Ngọc Y không thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay ngay cho Ngân hàng thì ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mãi tài sản thế theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất số 1170/21/HĐTC-BĐS/1100/5542 ngày 29/12/2021 được ký giữa bà Lê Ngọc Y với Ngân hàng để thu hồi nợ cho Ngân hàng.
-
Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Ngọc Y là người cao tuổi được xét miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP K1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 56.970.000 đồng (năm mươi sáu triệu chín trăm bảy mươi ngàn đồng) theo Biên lai thu số 0006892 ngày 07/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Lê Ngọc Y được trả lại án phí phúc thẩm do sửa án sơ thẩm số tiền là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0006511, ngày 04/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
-
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung.
-
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Quang Tấn |
Bản án số 26/2025/DS-PT ngày 07/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 26/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 07/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng LMCP KI yêu cầu Loà án giải quyết buộc bà Lê Ngọc Y phải thực hiện nghía vụ trả nợ cho Ngân hàng với tổng số tiền tạm tính đến hết ngày 15/8/2024 là 6.636.862.650 đồng (sáu tỷ sáu trăm ba mươi sáu triệu tám trăm sáu mươi hai ngàn sáu trăm năm mươi đồng), gồm tiền nợ gốc 5.100.000.000 đồng và lài trong hạn 1.286.235.452 đồng, lài quá hạn 139.048.274 đồng, phạt chậm trả 111.578.924 đồng. Bà Y tiếp tục phát sinh theo hợp đồng tín dụng kể từ ngày 16/8/2024 cho đến khi bà Y thanh toán dứt điểm nợ vay cho Ngân hàng. Nếu bà Lê Ngọc Y không thực hiện nghía vụ trả nợ vay ngay cho Ngân hàng thì ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mài tài sản thế theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất số 1170/21/HĐLC- BĐS/1100/5542 ngày 29/12/2021 được ký giừa bà Lê Ngọc Y với Ngân hàng để thu hồi nợ cho Ngân hàng.
