Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN ND HUYỆN LẠNG GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2024/HNGĐ-ST

Ngày 10/6/2024

V/v “Yêu cầu ly hôn, nuôi con chung".

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, BẮC GIANG

Thành phần HĐXX sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hằng.
  • - Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Vinh và ông Chu Quốc Đạt.
  • - Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Ngô Thị Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.
  • - Đại diện VKS nhân dân huyện L tham gia phiên tòa: Ông Vi Đức T - Kiểm sát viên.

Ngày 10/6/2024, tại trụ sở toà án nhân dân huyện Lạng Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 50/2024/TLST-HNGĐ ngày 27/02/2024 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03/5/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2024/QĐST-HNGĐ ngày 23/5/2024, giữa các đương sự:

  • + Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Hương L, sinh năm 1994 - (Vắng mặt).
  • HKTT: Thôn Cầu Đen, xã Quang Thịnh, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
  • Nơi ở: Thôn Cầu Bằng, xã Hương Sơn, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
  • + Bị đơn: Anh Chu Văn H, sinh năm 1990 - (Vắng mặt).
  • Địa chỉ: Thôn C, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Tại đơn khởi kiện tranh chấp hôn nhân gia đình ghi ngày 18/10/2023 và bản tự khai tiếp theo nguyên đơn chị Phạm Thị Hương L trình bày:

Chị kết hôn với anh Chu Văn H vào ngày 31/01/2017 trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại gia đình nhà chồng. Thời kỳ đầu vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến đầu năm 2023 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày tính tình không hợp nhau, vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn và cãi chửi nhau. Tháng 10 năm 2023, do mâu thuẫn căng thẳng, chị đã tự bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở nên vợ chồng đã cắt đứt mọi quan hệ từ đó cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể chung sống với anh H được nữa nên chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Chu Văn H.

  • + Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Chu Gia K, sinh ngày 05/12/2016. Hiện con khoẻ mạnh, phát triển bình thường và đang do chị chăm sóc, nuôi dưỡng. Nay vợ chồng ly hôn, nguyện vọng của chị xin được tiếp tục nuôi con chung. Chị không yêu cầu anh H phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung.
  • + Về tài sản chung, công nợ, ruộng đất canh tác: Không có nên chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay chị Phạm Thị Hương L có đơn xin vắng mặt.

- Bị đơn anh Chu Văn H: Tại bản tự khai ghi ngày 27/02/2024 anh Chu Văn H trình bày:

Anh kết hôn với chị Phạm Thị Hương L vào năm 2016 âm lịch trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện L. Sau khi kết hôn, chị L về nhà anh chung sống. Thời kỳ đầu tình cảm vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc, đến khoảng tháng 10 năm 2023 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng to tiếng cãi chửi nhau nên chị L đã bỏ về nhà mẹ đẻ ở, anh không đón gọi và vợ chồng cắt đứt mọi quan hệ từ đó cho đến nay. Nay anh xét thấy tình cảm vợ chồng với chị L vẫn còn nên chị L xin ly hôn, anh không đồng ý.

  • + Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Chu Gia K, sinh ngày 05/12/2016. Hiện con khoẻ mạnh, phát triển bình thường và đang do mẹ chăm sóc. Nay nếu vợ chồng phải ly hôn, nguyện vọng của anh xin được nuôi con chung. Anh không yêu cầu chị L phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung. Nếu chị L cương quyết xin nuôi con thì anh cũng nhất trí.
  • + Về tài sản chung, công nợ, ruộng đất canh tác: Vợ chồng đã tự thoả thuận nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà, anh Chu Văn H vắng mặt.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và HĐXX: Thẩm phán và thư ký trong quá trình giải quyết vụ án chấp hành đúng quy định của pháp luật. Thẩm phán xác định đúng mối quan hệ tranh chấp. Việc giao gửi các văn bản tố tụng và hồ sơ cho VKS nghiên cứu đầy đủ, đúng quy định; HĐXX thực hiện đúng quy định của pháp luật;

- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định, cụ thể tại buổi hòa giải, tiếp cận công khai chứng cứ anh H không ký vào các biên bản của Tòa án. Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt, nguyên đơn chị Phạm Thị Hương L vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với anh Chu Văn H.

- Về quan điểm đường lối giải quyết vụ án:

  • + Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 147; Điều 271; Điều 273 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Điều 51; Điều 55; Điều 58; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật HNGĐ. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về lệ phí, án phí Tòa án, X:
  • + Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị Hương L được ly hôn với anh Chu Văn H.
  • + Con chung: Giao cho chị L nuôi con chung. Anh H được quyền thăm nom chăm sóc con chung.
  • + Án phí: Chị L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
  • - Những yêu cầu, kiến nghị khác: Không.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ các ý kiến của các bên đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng và tiền tố tụng: Xác định đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị Hương L là hoàn toàn hợp lệ, đảm bảo đúng quy định. Tòa án đã tiến hành đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.

[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình, các đương sự có địa chỉ cư trú tại huyện L. Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang giải quyết là đúng thẩm quyền và phù hợp với quy định của pháp luật được quy định tại các Điều 26; Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về căn cứ áp dụng pháp luật: Do các bên kết hôn với nhau đã đủ điều kiện kết hôn và đã có giấy chứng nhận kết hôn hợp pháp, do vậy áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Hôn nhân gia đình 2014 để giải quyết.

[4] Về nội dung vụ kiện:

[4.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Hương L và anh Chu Văn H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng hoà thuận hạnh phúc đến khoảng năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hợp nhau, thường bất đồng trong quan điểm. Vợ chồng đã có thời gian sống ly thân với nhau từ tháng 10/2023 do chị L bỏ về mẹ đẻ sinh sống. Chị L xin ly hôn, anh H không đồng ý ly hôn. Tuy nhiên khi Tòa án tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải thì anh H không ký vào các biên bản nên việc hòa giải giữa các bên không thành.

Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị L và anh H đã đến mức trầm trọng, đời sống vợ chồng không hạnh phúc, mặc dù anh H không đồng ý ly hôn nhưng kể từ thời điểm Tòa án giải quyết vụ án cho đến nay, anh H vẫn không hàn gắn được tình cảm với chị L, hiện tại chị L vẫn cương quyết xin được ly hôn với anh H nên mục đích của hôn nhân không còn đạt được. Do vậy cần chấp nhận yêu cầu xin được ly hôn của chị Phạm Thị Hương L là phù hợp với các Điều 51; Điều 56; Điều 58 luật hôn nhân và gia đình.

[4.2] Về con chung: Vợ chồng chị L, anh H có một con chung là Chu Gia K, sinh ngày 05/12/2016. Hiện con phát triển bình thường và đang do chị L chăm sóc nuôi dưỡng. Nguyện vọng của chị L xin được tiếp tục nuôi con chung và anh H cũng nhất trí để chị L nuôi con, cần chấp nhận sự thỏa thuận này của chị L và anh H, chị L không yêu cầu anh H phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung, xét là phù hợp Điều 81; Điều 82 và Điều 83 luật hôn nhân gia đình.

[4.3] Về tài sản, ruộng canh tác: Chị L thừa nhận vợ chồng không có tài sản chung, không có công nợ chung và không có ruộng canh tác chung, chị L không đề nghị do vậy HĐXX không xem xét giải quyết.

[5] Về Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6] Về án phí: Căn cứ Điều 147 BLTTDS và Đ a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội chị Phạm Thị Hương L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

[7] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật HNGĐ. Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, xử:

[1] Quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị Hương L được ly hôn với anh Chu Văn H.

[2] Con chung: Xử giao cho chị Phạm Thị Hương L tiếp tục nuôi con chung là Chu Gia K, sinh ngày 05/12/2016. Chị L không yêu cầu anh H phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn anh Chu Văn H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

[3] Án phí: Chị Phạm Thị Hương L phải phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Được khấu trừ 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0007356 ngày 27/02/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang.

Báo cho các đương sự đều vắng mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án vắng mặt hoặc được niêm yết công khai bản án./.

Nơi nhận:

  • - Toà án tỉnh;
  • - VKSND huyện;
  • - Công an huyện;
  • - Thi hành án;
  • - UBND xã Quang Thịnh.
  • - Các đương sự.
  • - Lưu.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa




Trần Thị Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2024/HNGĐ-ST ngày 10/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, BẮC GIANG về yêu cầu ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 26/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Ly, anh Huy -LH
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger